Chatbox

Các bạn vui lòng dùng từ ngữ lịch sự và có văn hóa,sử dụng Tiếng Việt có dấu chuẩn. Chúc các bạn vui vẻ!
21/09/2015 11:09 # 1
oanhoanh2122
Cấp độ: 15 - Kỹ năng: 11

Kinh nghiệm: 55/150 (37%)
Kĩ năng: 10/110 (9%)
Ngày gia nhập: 20/03/2014
Bài gởi: 1105
Được cảm ơn: 560
Viêm tiểu cầu thận mạn tính


 
1.theo Y học hiện đại:
- Viêm cầu thận mạn là bệnh viêm thận mạn tính do nhiều nguyên nhân, đa phần ở tuổi trưởng thành, biểu hiện chủ yếu là: albumin niệu, huyết niệu, trụ niệu, phù, cao huyết áp.
- Bệnh tiến triển không ngừng dẫn đến suy thận.Nguyên nhân phát bệnh viêm thận mạn tính do phản ứng tự miễn dịch là chủ yếu; bệnh biến ở cả hai thận, tổn thương chủ yếu là ở tiểu cầu thận.
- Viêm thận mãn tính liên quan mật thiết với rối loạn nước và điện giải, rối loạn tuần hoàn huyết dịch trong tiểu cầu thận.
Căn cứ vào đặc điểm lâm sàng, người ta phân ra các thể: thể thông thường, thể cao huyết áp, thể cấp tính.

2.theo Y học Cổ truyền:
YHCT mô tả bệnh viêm cầu thận mạn tính trong chứng : thủy thũng, niệu huyết, yêu thống; thời kỳ sau thường là phạm trù hư lao. Khi phát bệnh thường là bản hư tiêu thực, tỳ thận hao tổn, ngoại tà xâm nhập làm công năng tạng phủ bất túc dẫn đến thấp trọc đình trệ, huyết ứ, thấp nhiệt lâu ngày làm phát tổn thương đến chính khí dẫn đến chính khí hư tà khí thực.
+ Nguyên nhân bệnh lý:
- Chính hư: do ẩm thực thất tiết tổn hại đến tỳ thận, làm cho tỳ thận khí hư dẫn đến khí bất hoá thuỷ, thủy thấp nội đình.Bệnh lâu ngày sẽ làm cho tỳ thận dương hư; tỳ bất năng vận hoá thủy thấp, thận dương khí hoá thất điều gây nên thủy thấp phiếm loạn. Nếu không được điều trị kịp thời sẽ gây nên dương tổn cập âm, thận âm bất túc, thuỷ bất dưỡng mộc mà dẫn đến can thận âm hư; mặt khác, tỳ hư bất năng hóa sinh khí - huyết cũng dẫn đến can thận âm hư; can thận âm hư làm cho tinh khí hao tổn, dẫn đến khí âm lưỡng hư làm cho doanh huyết bất túc; cuối cùng là phế khí hư và tỳ thận khí hư, phế vệ không kiên cố, ngoại tà thừa cơ xâm phạm vào cơ thể.
-Tà thực: ngoại tà (phong, hàn, thấp, nhiệt) kết hợp với nội tà làm cho thủy trọc, thấp nhiệt, huyết ứ; dẫn đến thuỷ thấp nội đình, có thể hóa hàn hoặc hóa nhiệt làm cho dương khí bất túc hoặc là dương thịnh. Nếu không điều trị kịp thời sẽ làm cho từ âm hóa thành hàn, sinh ra hàn thấp; hoặc từ dương hoá thành nhiệt, sinh ra thấp nhiệt. Thấp nhiệt tương hợp làm cho ngưng trệ sinh, đồng thời là nội động tà thực, nội - ngoại tương dẫn gây nên phát bệnh cấp tính.
3. Chẩn đoán:
Khởi phát bệnh từ từ, lúc nặng lúc nhẹ nhưng kéo dài, chức năng thận bị suy giảm; sau đó xuất hiện thiếu máu, bệnh võng mạc (giảm thị lực).
Các biểu hiện chử yếu: albumin niệu, hồng cầu niệu, phù, cao huyết áp ở mức độ khác nhau.
Căn cứ vào biểu hiện lâm sàng, người ta chia làm 3 thể:
- Thể thông thường: có các triệu chứng của viêm thận, nhưng không biểu hiện cấp tính (không có biến chứng).
- Thể cao huyết áp: ngoài triệu chứng viêm thận nói chung,nhưng triệu chứng huyết áp tăng là chính .
- Thể tiến triển cấp tính: trong quá trình tiến triển thành mãn, bệnh biểu hiện đầy đủ các triệu chứng của viêm thận cấp tính.
4. Biện chứng phương trị: 
Chủ yếu dựa vào chính hư - tà thực, nhưng lâm sàng thường thác tạp.
4.1 Chính khí hư (chứng bản hư): 
Đa phần ở thể thông thường; viêm tiềm ẩn, kín đáo.
4.1.1. Tỳ thận khí hư :
Pháp điều trị :
-Kiện tỳ bổ thận thấm thấp tiêu thũng
.
- Điều trị: “Đại bổ nguyên tiễn” gia giảm.
Đẳng sâm  10g  Phục linh  15g 
Sơn thù du  10g Bạch truật  10g 
Hoàng kỳ  20g  ý dĩ nhân  15g
Sơn dược  15g  Thục địa  15g 
Đỗ trọng  15g Đương qui  10g 
Thỏ ty tử  15g
- Gia giảm:
Niếu thiên về thể tỳ hư thì gia thêm: đẳng sâm, hoàng kỳ.
Niếu Thận hư thì thêm: ba kích thiên 10g, tục đoạn 12g.
 Nếu có sốt, ho, đau họng thì gia thêm các vị: tang diệp 6g, cúc hoa 6g, thất diệp nhất chi hoa 10g.
 Nếu hầu, họng đau nặng thì gia thêm: huyền sâm 10g, cát cánh 10g, ngưu bàng tử 10g, sạ can 10g.
4.1.2. Tỳ thận dương hư : 
- Pháp điều trị ôn dương lợi thủy (đa phần bệnh thận)
.
- Điều trị: hợp phương “chân vũ thang” và “ngũ bì ẩm” gia giảm.

Bắc phụ tử   10g  Ba kích thiên  10g 
Can khương   6g Phục linh bì  10g 
Bạch truật 10g  Bạch thược  10g
Đại phúc bì   15g Hoàng kỳ  15g
Đẳng sâm   15g Trư linh  10g 
Trạch tả 10g  Tiêu mục  10g
Đại táo   6 quả
- Gia giảm: thận dương hư nặng thì gia thêm: nhục quế 6g. Khi phù giảm, đái nhiều, ăn cũng khá lên thì nên cho uống bài “tế sinh thận khí hoàn”.
4.1.3. Can thận âm hư:
- Pháp điều trị : tư bổ can thận bình can tiềm dương (đa phần thể cao huyết áp )

- Điều trị: “Kỷ cúc địa hoàng hoàn” gia giảm.
Kỷ tử   15g  Cúc hoa  10g 
Sơn thù du 15g Sinh địa  15g
Sơn dược  15g  Đỗ trọng  10g
Ngưu tất  10g  Đan sâm  10g
Nếu tâm phiền, mất ngủ, tiểu tiện ít thì gia thêm: chi tử 10g, trúc diệp 10g.
Niệu huyết thì gia thêm: sinh địa, sinh địa thán mỗi thứ đều 15g, đại kế 10g, tiểu kế 10g, bạch mao căn 15g.
Nếu can dương thượng nghịch thì gia thêm: linh dương giác bột 2g (uống) câu đằng 10g, trân châu mẫu 10g.
4.1.4. Khí âm lương hư:
- Pháp điều trị: ích khí dưỡng âm bổ huyết
.
- Điều trị: “tứ quân tử thang” hợp “lục vị địa hoàng hoàn gia giảm.
Đẳng sâm  10g  Sinh địa  15g 
Sơn dược  15g Phục linh  10g 
Trạch tả   10g Đan bì  10g
Bạch truật  10g  Sơn thù du  15g
Cam thảo   6g Sinh hoàng kỳ  15g.
- Gia giảm:
Nếu tâm khí hư rõ thì hợp “sinh mạch ẩm”.
Nếu thận khí hư nặng thì gia thêm: thỏ ty tử 10g, đỗ trọng 10g. 
 Can âm bất túc thì thêm: sinh bạch thược 10g, nữ trinh tử 15g, hạn liên thảo 15g.
 Nếu họng đau lâu ngày cần cho thêm: sa sâm, huyền sâm. 
 Nếu ăn kém,bụng chướng thì gia thêm: chỉ xác 10g, cốc mạch nha 10g.
4.2. Chứng tiêu thực.
4.2.1. Ngoại cảm phong hàn.

- Đau đầu, sốt không có mồ hôi, mặt mắt hư phù; rêu lưỡi trắng, mỏng; mạch phù khẩn.
- Phương điều trị: giải biểu tán hàn.

- Điều trị: “cửu vị khương hoạt thang” gia giảm.
Khương hoạt  10g  Phòng phong  10g 
Thương truật   10g Tế tân   3g 
Xuyên khung  10g   Bạch chỉ  10g
Cam thảo   6g   Địa hoàng  10g.   Hoàng kỳ   10g
  Nếu phát sốt, vi hãn xuất thì gia thêm : quế chi 6g, bạch thược 6g.
Nếu tắc mũi, chảy nước mũi trong, gia thêm: hoa tân di 10g, thông bạch 3 củ.
4.2.2. Ngoại cảm phong nhiệt.
- Hầu họng sưng đau, phát sốt đau đầu, chảy mũi trong, mặt mắt hư phù, tiểu tiện ngắn đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng nhờn, mạch phù sác.
-Pháp điều trị: tân lương giải biểu.
- Thuốc “Ngân kiều tán” gia giảm:
Ngân hoa  10g Liên kiều  10g
Đạm trúc diệp   6g Kinh giới  10g
Ngưu bàng tử   10g Bạc hà   6g

Cam thảo   6g.
- Gia giảm:
Nếu mắt đỏ sưng đau thì gia thêm cúc hoa 6g.
Đại tiện táo thì gia thêm: ma tử nhân 15g, đại hoàng 6g (sau).
4.3.3. Thấp nhiệt ủng trệ.
- Hầu họng sưng đau, ngại nạp, quản tức, tiểu tiện đoản sáp đông thống, đại tiện nát trệ, lưỡi đỏ rêu vàng nhờn; mạch hoạt sác.
- Điều trị: thanh nhiệt - lợi thấp.
- Thuốc : “bát chính tán” hợp “cam lộ tiêu độc đan” gia giảm.
Mộc thông  10g   Biển súc  10g 
Khấu nhân   10g Đại hoàng   6g  
Hoạt thạch  12g  Chỉ thực  10g
Sa tiền tử  10g    Hoàng liên   6g.
Nếu mồm, lưỡi có mụn nhọt thì gia thêm: liên tử tâm 10g.
Nạp ngai, bụng chướng nặng thì thêm: “hương sa lục quân tử hoàn”.
4.3.3. Huyết ứ nội trở.
- Lưng đau cố định, bất đa, cơ phu, mặt xạm đen, dưới da có điểm ứ, niệu ít, lưỡi xám, mạch tế sáp.
- Điều trị: hoạt huyết - hóa ứ - thông lạc.
- Thuốc: “thất tiếu tán” gia giảm.
Ngũ linh chi  12g  Đương qui  10g 
Đào nhân  15g Ngưu tất  10g 
Bồ hoàng  12g  Xuyên khung  10g
Can địa long   6g  Xích thược  10g 
Hồng hoa   6g Chỉ xác  10g
Nếu đàm thấp nội thịnh thì gia thêm: bán hạ 10g, đởm nam tinh 10g.
Niếu thận hư thì gia thêm : kỷ tử 15g, thỏ ty tử 10g.
5. Lâm sàng tinh hoa:
5.1.Điều trị viêm thận mạn tính thể Protein niệu (hội chứng thận hư). Thường dùng bài thuốc “Cổ tinh thang”, “ kiện tỳ- bổ thận- cố tinh ” (Lục Kỳ, tạp chí Trung -tây y kết hợp, Quảng tây, 1997).
Hoàng kỳ  15g  Cát căn  12g 
Đẳng sâm  15g Thăng ma  10g 
Kỷ tử  12g  Tang ký sinh   5g
Sơn thù nhục  12g  Hắc thảo liên  12g 
Thỏ ty tử 12g Bạch mao căn  10g. 
ý dĩ nhân  30g 
 Sắc nước uống; mỗi ngày 1 thang chia 2 lần :Sáng, chiều. Uống liền 3 liệu trình mỗi liệu trình 1 tháng , đạt hiệu quả 71,43%.
  Toàn bộ bài thuốc có công năng bổ thận cố tinh kiện tỳ ích khí, lợi thấp tiêu thũng.
5.2. Điều trị , Đông - tây y kết hợp .
Theo kinh nghiệm của Diệp Nhâm Cao (1992). Tác giả dùng chế phẩm thuốc thảo mộc có chứa kháng thể IgA. Thuốc thảo mộc chủ yếu là loại thuốc hoạt huyết hoá ứ gồm :đan sâm ,ích mẫu thảo, hồng hoa ,đào nhân, đương quy vĩ , xích thược ,xuyên khung ,trạch lan thì kết quả điều trị sẽ tốt hơn .
dieutri.vn


oanhoanh

 

 


 
Copyright© Đại học Duy Tân 2010 - 2019