Chatbox

Các bạn vui lòng dùng từ ngữ lịch sự và có văn hóa,sử dụng Tiếng Việt có dấu chuẩn. Chúc các bạn vui vẻ!
13/09/2015 20:09 # 1
oanhoanh2122
Cấp độ: 15 - Kỹ năng: 11

Kinh nghiệm: 55/150 (37%)
Kĩ năng: 10/110 (9%)
Ngày gia nhập: 20/03/2014
Bài gởi: 1105
Được cảm ơn: 560
Thuốc tác dụng trên hệ adrenergic / Mở đầu


 

Hệ adrenergic là hệ hậu hạch giao cảm, giải phóng chất trung gian hóa học gọi chunglà catecholamin vì đều mang nhân catechol (vòng benzen có hai nhóm -

OH ở vị trí ortho và một gốcamin ở chuỗi bên. Các catecholamin gồm có adrenalin (được sản xuất chủyếu ở tuỷ thượn g thận) noradrenalin (ở đầu tận cùng các sợi giao cảm) và dopamin (ở một số vùng trên thần kinh trung ương).

   


Hình 6.1. Sinh tổng hợp catecholamin
1. CHUYỂN HÓA CỦA CATECHOLAMIN
Catecholamin được sinh tổng hợp từ tyrosin dưới tác dụng của một số enzym trong tế bào ưacrôm ở tuỷ thượng thận, các nơron hậu hạch giao cảm và một số nơron của thần kinh trung ương theo sơ đồ trên (hình 6.2)

Hình 6.2. Chuyển vận của catecholamin tại tận cùng dây giao cảm
Tyrosin được vận chuyển vào đầu tận cùng dây giao cảm nhờ c hất vận chuyển phụ thuộc Na +(A). Tyrosin được chuyển hóa thành dopamin (DA) rồi được chất vận chuyển (B) đưa vào các túi
dự trữ (các hạt). Chất vận chuyển này cũng vận chuyển cả noradrenalin (NA) và vài amin khác.Trong túi dự trữ, DA được chuyển 

hóa thàn h NA

. Điện thế hoạt động làm mở kênh calci, Ca 2+vào tế bào, giải phóng NA từ túi dự trữ.
Sau khi được tổng hợp, một phần catecholamin sẽ kết hợp với ATP hoặc với một dạng protein hòa tan là chromogranin để trở thành dạng không có hoạt tính, không bị các e nzym phá huỷ, lưu lại trong các “kho dự trữ” là những hạt đặc biệt nằm ở bào tương (khoảng 60%), còn một phần khác (khoảng 40%) vẫn ở dạng tự do trong bào tương, dễ di động, nằm ở ngoài hạt. Giữa hai dạng này luôn có sự thăng bằng động, 

khi dạng tự do giảm đi thì lại được bổ sung ngay từ các kho dự trữ.Lượng noradrenalin trong bào tương điều chỉnh hoạt tính của tyrosin hydroxylase theo cơ chế điều hòa ngược chiều: khi noradrenalin tăng thì hoạt tính của enzym giảm, và ngược lại.

Mặt khác, các chất cường re ceptor α2làm giảm giải phóng noradrenalin ra khe xinap và do đó trữ lượngcủa noradrenalin trong bào tương

sẽ tăng lên.
Theo giả thiết của Burn và Rand (1959 - 1962) dưới ảnh hưởng của xung tác thần kinh, ngọn dây giao cảm lúc đầu tiết ra acetylcholin, là m

thay đổi

tính thấm của màng tế bào, do đó Ca ++ từ ngoài tế bào thâm nhập được vào trong tế bào, đóng vai trò như một enzym làm vỡ liên kết ATP - catecholamin, giải phóng catecholamin ra dạng tự do.
Sau khi được giải phóng, một phần noradrenalin sẽ tác độn g lên các receptor (sau và trướcxinap),một phần chuyển vào máu tuần hoàn để 

tác dụng ở 

xa

 hơn rồi bị giáng hóa, còn phần lớn (trên
80%) sẽ được thu hồi lại, phần nhỏ khác bị mất hoạt tính ngay trong bào tương.

Hình 6.3. Số phận của n oradrenalin khi được giải phóng
1. Tác dụng trên receptor sau (1a) và trước (1b) xinap
2. Thu hồi
3. Vào tuần hoàn và bị chuyển hóa bởi COMT
4. Chuyển hóa trong bào tương bởi MAO
Catecholamin bị mất hoạt tính bởi quá trình oxy hóa khử amin do hai enzym MAO (mono – amin – oxydase) và COMT

(catechol - oxy- transferase) để cuối cùng thành acid 3 -methoxy- 4 hydroxy mandelic (hay vanyl mandelic acid - VMA) thải trừ qua nước tiểu.
MAO có nhiều trong ti thể (mitochondria), vì vậy nó đóng vai trò giáng hóa catecholamin ở trong tế bào hơn là ở tuần hoàn. Phong toả MAO thì làm

 tăng
catecholamin trong mô nhưng không ảnh hưởng đến tác dụng của catecholamin ngoại lai. 
COMT là enzym giáng hóa catecholamin ở ngoài tế bào, có ở màng xinap và ở nhiều nơi nhưng đậm độ cao hơn cả là ở ganvà thận. Phong toả COMT thì kéo dài được thời gian tác dụng củacatecholamin ngoại lai.
Receptor: Adrenalin và noradrenalin sau khi được giải phóng ra sẽ tác dụng lên các receptor của
hệ adrenergic. Ahlquist (1948) chia các receptor đó thành hai loại α và β do chúng có tác dụng khác nhau trên các cơ quan (bảng sau).
Ta thấy rằng tác dụng cường α có tính chất kích thích, làm co thắt các cơ trơn, chỉ có cơ trơn thành ruột là giãn. Ngược lại, tác dụng cường β có tính chất ức chế, làm giãn cơ, trừ cơ tim lại làm đập nhanh và đập mạnh.
Land, Arnold và Mc Auliff (1966) còn chia các receptor β thành hai nhóm β1 (tác dụng trên tim và chuyển hóa mỡ) và nhóm β2 (làm giãn mạch, giãn khí đạo và chuyển hóa đường). β2 trướcxinap kích thích làm tăng giải phóng NA, có vai trò điều hòa ngược với α2.
Theo đề xuất của Langer (1974), các receptor α được chia thành hai loại: loại α1 là receptor sau xinap, làm co mạch tăng huyết áp, loại α2là receptor trước xinap, có tác dụng điều hòa, khi kích thích sẽ làm giảm giải phóng norad renalin ra khe xinap, đồng thời làm giảm tiết renin, gây hạ huyết áp. Các receptor α2có nhiều ở hệ giao cảm trung ương. Hiện cũng thấy có receptor α2 ở sau xinap của mạch máu và tế bào cơ trơn (làm co), mô mỡ và các tế bào biểu mô xuất tiết (ruột, thận, tuyến nội tiết)
Dopamin chủ yếu tác dụng ở thần kinh trung ương, ở thận và các tạng, trên các receptor đặc hiệu đối với nó gọi là các receptor dopaminergic (receptor delta - δ)

Bảng 6.1: Các receptor adrenergic
Iso*: Isoproterenol Adr: adrenalin NA: noradrenalin
Ghi chú của bảng 3:
- Mọi receptor β đều kích thích adenylcyclase thông qua protein G Svà làm tăng AMPv, ngoài ra còn làm kênh calci cảm ứng với điện thế của cơ vân

 vàcơ tim.
- Receptor α2, trái lại, ức chế adenylcyclase thông qua protein G i, đồng thời hoạt hóa kênh kali,
ức chế kênh calci.
- Receptor α1 kích thích làm tăng calci nội bào thông qua 2 chất trung gian Diacylglycerol
(DAG) và Inositol triphosphat (IP 3).

nguồn:: yduocvn.com

 



oanhoanh

 

 


 
Copyright© Đại học Duy Tân 2010 - 2019