Chatbox

Các bạn vui lòng dùng từ ngữ lịch sự và có văn hóa,sử dụng Tiếng Việt có dấu chuẩn. Chúc các bạn vui vẻ!
24/02/2012 14:02 # 1
hoanghuydtu
Cấp độ: 31 - Kỹ năng: 24

Kinh nghiệm: 216/310 (70%)
Kĩ năng: 2/240 (1%)
Ngày gia nhập: 09/04/2010
Bài gởi: 4866
Được cảm ơn: 2762
Các danh lanh thắng cảnh Đà Nẵng


 Ngũ Hành Sơn
 


Ngũ Hành Sơn hay núi Non Nước là một thắng cảnh nổi tiếng; trong ký ức của nhiều người đây còn là vùng “địa linh” của xứ Quảng xưa nay. Ngũ Hành Sơn là một địa danh được cả nước biết đến. Một nhà thơ đã viết về Ngũ Hành Sơn “Núi thấp hơn hết mà danh cao hơn hết” (dịch). Thực ra tên gọi Non Nước đã có từ lâu đời, đã đi vào ca dao như một tổng kết kinh nghiệm về thời tiết của dân chúng: “Chiều chiều mây phủ Sơn Trà, Sấm rền Non Nước trời đà chuyển mưa”. Trong Giáp Ngọ bình Nam đồ do Đoan quốc công Nguyễn Hoàng lập năm 1594, sau khi được vua Lê cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa, vẽ đường đi từ Chiêm Thành đến biên giới Chân Lạp có ghi địa danh “Non Nước Sơn”. Cũng như trong Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư do Đỗ Bá Công Đạo, tự Đạo Phủ, quê Nghệ An, soạn vào năm Bính Dần (1686), vẽ đường đi từ Thăng Long đến Chiêm Thành đều có ghi “Non Nước Sơn tam đỉnh” bằng chữ Nôm. Như vậy là địa danh núi Non Nước đã xuất hiện trên văn bản hơn 5 thế kỷ, còn sự ra đời của nó chắc phải kể từ khi những lưu dân Việt đặt chân đến vùng đất này. Trong khi đó, tên Ngũ Hành Sơn được Lê Quang Định nói đến trong Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (1806) như sau: “Phía đông bến đò xã Hoàn Ký Đông có núi Ngũ Hành Sơn, năm tòa núi chia làm Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ gọi là núi Non Nước”(1). Phải thừa nhận rằng tên Ngũ Hành Sơn không những mang tính hoa mỹ hơn, mà người đặt ra nó đã dựa vào thế đất, thế núi và có kết hợp các yếu tố cơ bản của thuyết âm dương-ngũ hành.

Người Pháp sau này, cuối thế kỷ XIX, thì lại dựa vào chất liệu của núi đá để đặt tên cho thắng cảnh là “Les montagnes de marbre” (Những ngọn núi đá cẩm thạch).

Những dấu tích còn lưu lại cho biết rằng trước khi người Việt đến đây, người Chăm đã thờ cúng các vị thần của họ trong các hang động, đền miếu trên các hòn núi này. Người Việt đến mang theo đạo Phật, lập thêm chùa chiền, am, thất làm tôn thêm tính chất uy nghiêm của một thắng cảnh mà không bài trừ nhau.

Quần thể thắng cảnh Ngũ Hành Sơn nằm trên địa phận xã Hòa Hải, huyện Hòa Vang, nay là phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 8km về phía đông nam, ngay trên tuyến đường Đà Nẵng- Hội An. Những núi đá vôi nằm rải rác trên diện tích khoảng 2km2, gồm: Kim Sơn, Mộc Sơn, Thổ Sơn, Thủy Sơn và Hỏa Sơn. Mỗi ngọn núi có một vẻ đẹp riêng về hình dáng, vị trí, chất liệu đá, về hang động, chùa chiền bên trong. Trong các ngọn núi, Thủy Sơn là hòn lớn nhất và cũng kiều diễm nhất. Núi cao 106m, có 3 ngọn ở 3 tầng giống như 3 ngôi sao (Tam Thai). Đây là nơi tập trung nhiều hang động, chùa chiền nhất.

Về hang động có: Hóa Nghiêm, Huyền Không, Linh Nham, Lăng Hư, Vân Thông, Thiên Long, Bàn Cờ, Tàng Chân, Chiêm Thành và Vọng Hải Đài, Vọng Giang Đài. Về chùa có: Tam Thai, Tam Tôn, Linh Ứng… 
Điều thú vị ở đây mà các điểm du lịch khác khó có thể có được là sau những giờ leo trèo, lên xuống hàng trăm bậc cấp để thăm thú các hang động và chùa chiền, du khách chỉ cần bước ra mấy trăm mét là đến bãi biển cát trắng mịn, nước trong xanh, sóng êm như mời gọi chào đón đến với làn nước mặn, thư giãn gân cốt, đồng thời ngắm nhìn cảnh núi non, trời biển bao la. 

Cả vùng Ngũ Hành Sơn được quy hoạch và đang triển khai xây dựng thành Khu Công viên văn hóa Ngũ Hành Sơn.

(1) Lê Quang Định, Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, bản dịch của Phan Đăng, Nxb. Thuận Hóa, 2005, tr. 227.

danang.gov.vn



 
Không được phép bỏ link vào chữ ký 
Không Spam link dưới mọi hình thức
Thanks all

 
24/02/2012 14:02 # 2
hoanghuydtu
Cấp độ: 31 - Kỹ năng: 24

Kinh nghiệm: 216/310 (70%)
Kĩ năng: 2/240 (1%)
Ngày gia nhập: 09/04/2010
Bài gởi: 4866
Được cảm ơn: 2762
Phản hồi: Các danh lanh thắng cảnh Đà Nẵng


 Sơn Trà - Khu bảo tồn thiên nhiên trong thành phố
Bán đảo Sơn Trà nhìn từ trên cao

Sơn Trà - một địa danh chỉ một bán đảo có diện tích 4.370ha, vừa chỉ một dãy núi dài 13,5km, án ngữ phía đông bắc thành phố Đà Nẵng, tạo nên bức tường thành ngăn gió bão làm cho vũng Đà Nẵng kín gió, nơi neo đậu tàu thuyền an toàn hơn. Sơn Trà còn là một địa danh hành chính cấp quận gồm 7 phường kể từ khi Đà Nẵng tách khỏi tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương (1-1-1997).
 
Bản đồ của Pháp trước đây ghi Tiên Sa để chỉ bán đảo và núi Sơn Trà. Nay Tiên Sa là tên của một cảng biển ở Đà Nẵng. Người Mỹ khi đóng quân ở đây (1965-1975) gọi Sơn Trà là “Monkey mountain” (Núi Khỉ), điều này cũng nói lên số lượng cá thể phong phú của loài linh trưởng sống trên núi này.Theo thống kê chưa đầy đủ, hệ động vật Sơn Trà có trên 100 loài, trong đó có 8 loài thuộc loại quý hiếm. Hệ thực vật cũng rất phong phú, có 289 loài, trong đó có 64 loại gỗ lớn, 107 loài cây thuốc, cây cảnh. Ở góc độ
 tự nhiên, việc giữ gìn và bảo vệ hệ động thực vật của Sơn Trà không chỉ có ý nghĩa về mặt bảo vệ sự đa dạng sinh học, mà còn trực tiếp góp phần vào việc bảo vệ sinh cảnh lâu dài của một thành phố cảng có rừng tự nhiên phục vụ cho nhu cầu tham quan, du lịch, nghỉ dưỡng và sinh hoạt văn hoá.
 
Rừng Sơn Trà được xếp vào danh sách trong hệ thống rừng đặc dụng quốc gia với tên gọi Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà (Quyết định số 41TTg ngày 24-1-1977 của Thủ tướng Chính phủ).
 

 

 

 Du khách rất ngạc nhiên và thích thú trước sự đa dạng sinh học của Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà

 

Truyền thuyết dân gian kể rằng ngày xửa, ngày xưa nơi đây là vùng đất có nhiều cảnh đẹp, cây cối bốn mùa xanh tươi, tiếng vượn hú, chim kêu hòa cùng với tiếng suối reo và tiếng sóng biển rì rào. Quang cảnh ấy đã thu hút các vị tiên trên trời sa xuống để thưởng ngoạn, các tiên ông thì đánh cờ, các tiên nữ thì tắm suối hoặc đùa giỡn với sóng biển. Cái tên Tiên Sa ra đời từ đó. Truyền thuyết ấy ngày nay vẫn còn giá trị như một lời khuyên mọi người hãy có ý thức giữ gìn món quà quý giá mà thiên nhiên đã hào phóng ban tặng cho vùng đất này.
 
Một con đường rất đẹp chạy quanh bán đảo đã được xây dựng. Ven con đường này đã hình thành các khu du lịch, khách sạn cao cấp. Một ngôi chùa mang tên Linh Ứng Bãi Bụt với kiến trúc đậm nét dân tộc cũng đã được hoàn thành vào tháng 7-2010.

danang.gov.vn



 
Không được phép bỏ link vào chữ ký 
Không Spam link dưới mọi hình thức
Thanks all

 
24/02/2012 14:02 # 3
hoanghuydtu
Cấp độ: 31 - Kỹ năng: 24

Kinh nghiệm: 216/310 (70%)
Kĩ năng: 2/240 (1%)
Ngày gia nhập: 09/04/2010
Bài gởi: 4866
Được cảm ơn: 2762
Phản hồi: Các danh lanh thắng cảnh Đà Nẵng


 Hải Vân - “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”
 


Núi Hải Vân hay Hải Vân Sơn là ngọn núi cuối cùng của một mạch núi đâm ngang ra biển lớn nhất của dãy Trường Sơn hùng vĩ, mà đỉnh cao nhất 1.450m, tưởng chừng vươn tới trời xanh, đỉnh núi lẫn trong mây, còn chân núi chìm trong nước biển mênh mông.

Nói về sự hùng vĩ của núi Hải Vân ở thế kỷ XVIII, Ngô Thì Chí đã viết: “Ngọn núi này khí át sông Ngân, thế nuốt bờ biển, tảng đá trập trùng khó vịn, cây cối sum suê rợp bóng, sóng vỗ ầm ầm như tiếng sấm vang trời, suối chảy rào rào như tuôn nước từ lưng chừng trời đổ xuống”. Chỉ có người vượt đèo bằng đôi chân theo con đường thiên lý thời ấy mới có được cảm giác như thế, chứ đi bằng ôtô hay tàu lửa thời nay thì sẽ có cảm giác hoàn toàn khác.

Núi Hải Vân là đường phân giới về địa lý và địa chất trong thiên nhiên của nước ta. Phía bắc Hải Vân là cảnh quan đá vôi karstic với hang động kỳ thú, rừng gió mùa chí tuyến. Phía nam Hải Vân là rừng nhiệt đới xích đạo. Trên đỉnh đèo, có khi thời tiết diễn ra như có đủ bốn mùa trong ngày: tinh mơ là thu, đứng trưa là hạ, xế chiều là xuân và sập tối là đông. Với vị trí là đường phân giới Bắc Nam, núi Hải Vân là một kỳ quan của đất nước, là quan ải hùng vĩ bậc nhất trên con đường Nam tiến của dân tộc, đã từng được những người đứng đầu chính quyền Việt Nam đánh giá là một vị trí chiến lược xung yếu trên tuyến đường Bắc – Nam.

Từ nhiều thế kỷ trước dãy núi như bức trường thành ấy đã bị con người vượt qua bất chấp rừng rậm, dốc cao, vực sâu đầy hùm beo, thú dữ… và cả bọn thảo khấu có thể xuất hiện, chặn đường trấn lột khách. Cái ấn tượng lo sợ của khách bộ hành qua đây vẫn còn in đậm trong câu ca dao: 

“Đi bộ thì khiếp Hải Vân, đi thủy thì sợ sóng thần hang Dơi”.

Ngày xưa, người ta có thể qua Hải Vân bằng ba con đường: thượng đạo, trung đạo và hạ đạo. Hạ đạo là tuyến đường biển, còn thượng đạo và trung đạo là đường xuyên núi.

Đầu thế kỷ XIX, sau khi thống nhất đất nước, triều Nguyễn đã chọn Huế làm kinh đô, thì Hải Vân quan trở thành cửa ngõ của kinh sư. Dưới thời Minh Mạng, đường qua đèo được xây cất, lát đá, đặc biệt một cụm công trình được xây dựng giữa đỉnh đèo cấu thành một pháo đài quân sự kiên cố gọi là Hải Vân Quan. Công trình đã bị phá bỏ phần lớn, nay chỉ còn lưu lại hai vòm cửa chính và một đoạn thành ngắn. Cửa vòm trông về phía Thừa Thiên, bên trên có tấm biển đá khắc ba chữ “Hải Vân Quan”, cao 6,16m, rộng 7,7m, dày 6,37m. Cửa vòm trông về phía Quảng Nam có khắc 6 chữ “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”, cao 5,2m, rộng 7,9m, dày 4,75m.

Sau khi chiếm xong Trung Kỳ, Tổng tư lệnh binh đoàn Pháp, tướng De Courcy ra lệnh cấp tốc mở ngay con đường chiến lược qua đèo Hải Vân để nối Huế với Đà Nẵng, đồng thời có thể cơ động quân nhanh chóng để “bình định” Quảng Nam khi cần. Lực lượng công binh Pháp đã bắt dân phu hai tỉnh làm đường từ 1886. Đoạn đường bộ này dài 20km, trải qua hơn một thế kỷ uốn sửa, mở rộng, nâng cấp, nhưng về cơ bản vẫn theo vị trí ban đầu. 

Đầu thế kỷ XX, con đường xe lửa qua đèo ở độ cao 100m so với mặt nước biển được xây dựng, dài 21km, chạy ven theo triền núi, qua 7 hầm, có chiều dài tổng cộng 3.290m, trong đó hầm Sen dài nhất 562m. 

Ngày 27-8-2000, đã cử hành lễ khởi công mở hầm đường bộ xuyên qua đèo Hải Vân dài 6.274m, rút ngắn đoạn đường đèo xuống còn 1/3, và quan trọng hơn là các phương tiện vận chuyển không phải vượt qua những đèo dốc quanh co đầy rủi ro, bất trắc. Lúc 1 giờ 10 phút ngày 28-10-2003, con đường hầm lớn nhất và hiện đại nhất Đông Nam Á đã được khai thông. 

Đèo Hải Vân không chỉ là một danh thắng hùng vĩ vào bậc nhất nước ta - “Thiên hạ đệ nhất hùng quan” - mà còn là nơi chứng kiến bao nhiêu chiến tích oai hùng trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc trong suốt nhiều thế kỷ qua và đặc biệt là những chiến công ở nơi đây trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (1946-1975).

danang.gov.vn



 
Không được phép bỏ link vào chữ ký 
Không Spam link dưới mọi hình thức
Thanks all

 
24/02/2012 14:02 # 4
hoanghuydtu
Cấp độ: 31 - Kỹ năng: 24

Kinh nghiệm: 216/310 (70%)
Kĩ năng: 2/240 (1%)
Ngày gia nhập: 09/04/2010
Bài gởi: 4866
Được cảm ơn: 2762
Phản hồi: Các danh lanh thắng cảnh Đà Nẵng


 Khu nghĩ dưỡng Bà Nà
Ba Na Hills Resort

Núi Bà Nà nằm về phía tây thành phố Đà Nẵng, dựa lưng vào dãy Trường Sơn, cách trung tâm thành phố 28km tính theo đường chim bay, nhưng đi theo đường ôtô lên tới đỉnh đến 45km, trong đó có 26km đường đèo dốc quanh co. Núi cao 1.487m so với mặt nước biển, được hình thành trên các loại đá cứng như granit, permatit và đá bazan biến chất. Trên các triền núi phủ đất đỏ và xám là những rừng cây với nhiều loại gỗ quý như kiền kiền, chò chỉ, gõ đỏ, sến, mây, song, phong lan, dương xỉ. Ở độ cao trên 1.000m có nhiều thông mọc. Các cuộc điều tra ở đây cho biết về thực vật có 136 họ, 379 chi và hơn 453 loài, có 251 cây thuốc; về động vật có 266 loài thuộc 3 lớp động vật có xương sống, có 61 loài thú, 178 loài chim, 17 loài bò sát. Diện tích toàn khu núi Bà Nà là 8.425ha, rừng tự nhiên chiếm 6.056ha.

Điều làm nên giá trị tự nhiên của núi Bà Nà là ở chỗ trên đỉnh cao nhất lại bằng phẳng như một cao nguyên nhỏ, khí hậu mát quanh năm, nhiệt độ trung bình 18,3oC, cao nhất cũng chỉ đến 25oC. Điều kỳ thú ở đây là vào mùa hè khi ở đồng bằng nhiệt độ lên tới 32o-35o thì ở đỉnh Bà Nà chỉ có 17o-20o. Khí hậu trong ngày có cả 4 mùa: sáng xuân, trưa hạ, chiều thu, tối đông. Đặc biệt, đứng từ trên đỉnh có thể quan sát cảnh mưa rơi xung quanh sườn núi bên dưới, như có cảm giác đứng giữa mưa mà vẫn khô ráo như thường. 

 

 

 Cáp treo lên đỉnh Bà Nà

 

Theo tài liệu lưu trữ, khu nghỉ dưỡng Bà Nà do người Pháp phát hiện vào năm 1898 và cho đến những năm 30 của thế kỷ trước, chính quyền thực dân đã cho xây dựng ở đây hơn 250 ngôi biệt thự và những khách sạn, bệnh xá, nhà băng, nhà bưu điện, trạm thuế, nhà trẻ… với nhiều dạng kiến trúc khác nhau để làm nơi nghỉ dưỡng cho quan chức, sĩ quan, nhân viên cao cấp của Pháp. Ngày xưa, ôtô chưa thể chạy đến đỉnh đèo ở độ dốc từ 25-30o, mà chỉ dừng ở chân đèo, rồi đi bằng kiệu, cáng do phu người Việt khiêng. Ngày nay cùng với đường ôtô chạy tới đỉnh, lại có cả hệ thống cáp treo đạt hai kỷ lục thế giới (cáp treo một dây dài nhất 15.042 mét và có độ cao chênh lệch 1.291 mét). Chỉ cần đến ga cáp treo Suối Mơ, rồi lên ngồi trong cabin cáp treo, sau 17 phút là có thể bước vào một vùng khí hậu ôn đới, trong lành, giữa một khung cảnh thiên nhiên vô cùng thơ mộng. Cái độc đáo của Bà Nà là một khu du lịch, nghỉ dưỡng nằm ngay trong địa phận thành phố lớn Đà Nẵng, lại cách biển chỉ 15km.

danang.gov.vn



 
Không được phép bỏ link vào chữ ký 
Không Spam link dưới mọi hình thức
Thanks all

 
24/02/2012 14:02 # 5
hoanghuydtu
Cấp độ: 31 - Kỹ năng: 24

Kinh nghiệm: 216/310 (70%)
Kĩ năng: 2/240 (1%)
Ngày gia nhập: 09/04/2010
Bài gởi: 4866
Được cảm ơn: 2762
Phản hồi: Các danh lanh thắng cảnh Đà Nẵng


 Bảo tàng điêu khắc Chămpa Đà Nẵng
Bảo tàng điêu khắc Chămpa Đà Nẵng

Bảo tàng điêu khắc Chămpa, thường được dân chúng gọi là “Bảo tàng Chàm” (dịch từ Musée Cham ) nằm ở giao điểm đường Bạch Đằng và đường Trần Phú, thuộc quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Ngôi nhà được mô phỏng theo đường nét kiến trúc kiểu tháp Chăm cổ, nằm trong khuôn viên có nhiều cây sứ cổ thụ.

Đôi nét về lịch sử: Sự việc được khởi đầu do một công chức ngạch cai trị của Pháp là Charles Lemire, Công sứ tỉnh Quảng Nam. Lemire bắt đầu công cuộc sưu tập vào năm 1891 các tác phẩm điêu khắc Chămpa nằm rải rác ở các ngôi tháp, hoặc các phế tích ở trong tỉnh mà lâu nay ít ai chú ý đến, đem tập trung về Đà Nẵng. Sau 5 năm (1895), bộ sưu tập của Lemire đã lên đến 90 cổ vật bằng đá sa thạch được tập trung ở một khu vườn có nhiều cây tỏa bóng mát ở gần bờ sông Hàn, đây chính là địa điểm mà sau này Bảo tàng điêu khắc Chàm được xây dựng.

Sau bao nhiêu khó khăn về mặt thủ tục hành chính và vấn đề kinh phí, cho đến năm 1915, công trình mới được xây dựng và hoàn thành vào tháng 5-1916 với tên gọi ban đầu “Les Chams au Musée de Tourane” (Người Chàm ở Bảo tàng Đà Nẵng). Ngày 22-6-1918, Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut ký quyết định thiết lập ở Đà Nẵng “Musée de l’Indochine, Section des antiquités Chames” (Bảo tàng Đông Dương, phần các cổ vật Chàm) và quy định đây là bảo tàng khảo cổ học trực thuộc phủ Toàn quyền, dưới sự kiểm soát về chuyên môn của Trường Viễn Đông bác cổ.

Điều hành việc xây dựng bảo tàng, nghiên cứu sắp xếp hệ thống hóa các bộ sưu tập theo niên đại và theo phong cách, là một nhân viên của Trường Viễn Đông bác cổ H.Parmentier. Do đó, khi cơ sở này được hoàn tất và mở cửa đón khách, thì người ta chỉ nhắc đến “Musée H.Parmentier” (Bảo tàng Parmentier), mà quên đi người đặt nền móng đầu tiên cho công trình. Cũng phải thừa nhận rằng sau này chính H.Parmentier đã có công sưu tập, bổ sung, phân loại, sắp xếp một cách khoa học các tác phẩm nghệ thuật phản ánh những nét sinh hoạt, tín ngưỡng, tôn giáo và tài nghệ độc đáo của dân tộc Chăm.

Hiện nay, ở Bảo tàng điêu khắc Chămpa Đà Nẵng có trên 300 cổ vật điêu khắc trên đất nung và đất sa thạch từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ XIII được sưu tập suốt dải đất miền Trung từ Quảng Bình đến Bình Thuận, được trưng bày cùng với những thuyết minh đầy đủ nhất. Đây cũng là bảo tàng điêu khắc Chămpa duy nhất trên thế giới.

 

 

 Đài thờ Mỹ Sơn E1 tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm - Đà Nẵng


Bảo tàng được thành phố Đà Nẵng đầu tư nâng cấp, diện tích được xây dựng thêm là 1.800m2 (2002 – 2004). Công trình vẫn giữ được phong cách kiến trúc tổng thể và kế thừa bố cục trưng bày ban đầu, song được bổ sung thêm 150 hiện vật mới, trong đó có nhiều hiện vật rất quý như tượng nữ thần bằng đồng.

Hệ thống chiếu sáng, âm thanh, các phương tiện bảo vệ hiện vật được trang bị đồng bộ và hiện đại hơn. Bảo tàng đã bước đầu bố trí chỗ dành cho những người có yêu cầu nghiên cứu đến làm việc thuận tiện.


 
Không được phép bỏ link vào chữ ký 
Không Spam link dưới mọi hình thức
Thanks all

 
24/02/2012 14:02 # 6
hoanghuydtu
Cấp độ: 31 - Kỹ năng: 24

Kinh nghiệm: 216/310 (70%)
Kĩ năng: 2/240 (1%)
Ngày gia nhập: 09/04/2010
Bài gởi: 4866
Được cảm ơn: 2762
Phản hồi: Các danh lanh thắng cảnh Đà Nẵng


 Di tích K20
 

Khu Di tích lịch sử cách mạng K20 là tên gọi do Quận ủy Quận III đặt để làm mật hiệu liên lạc thời chống Mỹ. Khu di tích nằm trên địa bàn Khối phố Đa Mặn, phường Bắc Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn; trên tuyến đường từ trung tâm thành phố đến khi di tích Ngũ Hành Sơn và Đô thị cổ Hội An.

 

K20 là một trong những căn cứ cách mạng quan trọng của thành phố Đà Nẵng trong chiến tranh; rộng 3 km2, với hơn 3 nghìn dân. Sau khi chiếm giữ Đà Nẵng năm 1954, Mỹ Ngụy đã xây dựng nhiều đồn bót quanh Đa Mặn, hình thành bộ máy kìm kẹp nhân dân, ngăn cản lực lượng cách mạng ngay từ bên ngoài vào thành phố.

 

Chính trong điều kiện đó chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân dân Đa Mặn đã được phát huy cao độ, trở thành bài học quý báu cho phong cách mạng địa phương. Trong đó, nhiều sự kiện, cột mốc lịch sử vẫn còn được lưu truyền sinh động trong nhân dân và đi vào sử sách. Đáng kể là sự kiện năm 1962, nơi đây đã tổ chức được lực lượng du kích mạnh, làm nhiệm vụ “diệt ác phá kìm”; đến năm 1964 phát triển tới 27 đội viên, tiêu diệt 12 tên ác ôn, phá hủy nhiều ấp chiến lược... Hầu hết các gia đình ở Đa Mặn thời đó đều có hầm bí mật để nuôi giấu cán bộ.

 

Nhà truyền thống được xây dựng khang trang, hiện đang lưu giữ tương đối đầy đủ các hiện vật của một thời đấu tranh ngoan cường, bất khuất. Những địa chỉ đỏ, hầm bí mật, chiến hào xưa đang được vào các chương trình tham quan, giáo dục truyền thống. Mỗi hiện vật, mỗi sự tích đều gắn liền những con người có thật, trong đó có người đang còn sống, đang xây dựng cuộc sống mới ngay tại mảnh đất lịch sử này.



 
Không được phép bỏ link vào chữ ký 
Không Spam link dưới mọi hình thức
Thanks all

 
24/02/2012 14:02 # 7
hoanghuydtu
Cấp độ: 31 - Kỹ năng: 24

Kinh nghiệm: 216/310 (70%)
Kĩ năng: 2/240 (1%)
Ngày gia nhập: 09/04/2010
Bài gởi: 4866
Được cảm ơn: 2762
Phản hồi: Các danh lanh thắng cảnh Đà Nẵng


 Đình Tuý Loan
 

Đình Tuý Loan hiện ở tại thôn Túy Loan, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang. Được xây dựng vào những năm cuối thế kỷ XVIII, cụ thể là vào năm Thành Thái thứ nhất (1889). Cũng như đình NạiNam và Bồ Bản, đình Túy Loan thờ Thành hoàng bổn xứ và các vị tiền hiền, hậu hiền của làng.

 

Ngày xưa, hằng năm nhân dân tổ chức lễ tế Xuân vào 14 - 15 tháng 2 âm lịch và tế Thu vào 14 - 15 tháng 8 âm lịch tại đình. Hiện nay, đình Túy Loan là ngôi đình duy nhất còn giữ được 15 sắc phong từ thời Minh Mạng đến Bảo Đại.

 

Đình có diện tích 110m2, nằm trong khuôn viên rộng hơn 8.000 m2, thoáng đãng, hướng quay ra sông, nhìn về thế núi, sát đường lớn, dưới bóng cây đa cổ thụ cành lá xum xuê. Mái đình lợp ngói âm dương, tường xây bằng gạch, trên mái trang trí lưỡng long chầu nguyệt, hai đầu mái đắp hình rồng uốn lượn được ghép bằng sành sứ. Trong đình chia làm 3 gian, 2 chái, phần hậu tẩm rộng 2,4m, dài 2,7m gồm 4 hàng cột bằng gỗ mít, mỗi hàng có 6 cột cao từ 2,5 đến 4,5m. Kết cấu các vĩ kèo, cột theo kiểu chồng rường giả thủ. Các giả thủ chạm khắc hình hoa lá cách điệu, chân giả thủ trang trí hình quả bí. Hai đầu các thanh trính chạm đầu rồng, cột kèo ở hai đầu hồi chạm đầu rồng và hoa văn mây cuộn, hoa cúc, hoa mẫu đơn... được thể hiện qua tài năng thợ Kim Bồng, có giá trị nghệ thuật.

 

Trong kháng chiến chống Pháp, đình Túy Loan là nơi nhân dân địa phương tập trung tổ chức biểu tình, phối hợp cùng nhân dân hai làng Bồ Bản và Cẩm Toại kéo về huyện đường Hòa Vang cướp chính quyền tháng 8.1945.

 

Thời kỳ chống Mỹ (1957 - 1959) chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm lấy đình Túy Loan làm nơi cải huấn “tố cộng”, “diệt cộng” vì thế cũng là nơi diễn ra nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân địa phương chống Mỹ - Diệm.



 
Không được phép bỏ link vào chữ ký 
Không Spam link dưới mọi hình thức
Thanks all

 
24/02/2012 14:02 # 8
hoanghuydtu
Cấp độ: 31 - Kỹ năng: 24

Kinh nghiệm: 216/310 (70%)
Kĩ năng: 2/240 (1%)
Ngày gia nhập: 09/04/2010
Bài gởi: 4866
Được cảm ơn: 2762
Phản hồi: Các danh lanh thắng cảnh Đà Nẵng


 Đình Bồ Bản
 

Đình Bồ Bản hiện ở tại thôn Bồ Bản, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang. Được xây dựng vào những năm đầu của thế kỷ XIX bằng thanh tre tại gò miếu Tam Vị. Năm 1852, đình được dời về trung tâm làng. Tường xây gạch, mái lợp ngói âm dương. Đình chia làm 3 gian, 2 chái, dài 14,5m, rộng 9,7m. Có 36 cột bằng gỗ mít và kiền kiền, kết cấu kèo, cột cũng được thể hiện theo lối chồng rường giả thủ, đầu các trính chạm đầu rồng, các vì kèo chạm mai, trúc, tùng, lan. Ngoài ra, còn có các loài chim, thú như chim sẻ, khỉ (hầu) và các họa tiết hoa văn, được khắc chạm tinh tế, khéo léo và tỉ mỉ, tạo nên những tác phẩm điêu khắc độc đáo, giàu tính nghệ thuật, có giá trị khoa học.

 

Đình Bồ Bản lập ra để thờ Thành hoàng, các vị tiền hiền của làng và là nơi sinh hoạt lễ hội hằng năm.

Tháng 8.1945, chuẩn bị cướp chính quyền, nhân dân địa phương đã tập trung về đình để tổ chức biểu tình, buộc bọn quan lại, lý hương giao ấn triện, sổ sách. Đình Bồ Bản là nơi lập phòng phiếu bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tại địa phương.

 

Đình còn là nơi hội họp ra chủ trương diệt ác, phá kèm, cướp súng đạn và các kho tàng của địch ở huyện Hòa Vang trong thời kỳ chống giặc ngoại xâm.

 

Đình đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa ngày 04/01/1999.



 
Không được phép bỏ link vào chữ ký 
Không Spam link dưới mọi hình thức
Thanks all

 
24/02/2012 14:02 # 9
hoanghuydtu
Cấp độ: 31 - Kỹ năng: 24

Kinh nghiệm: 216/310 (70%)
Kĩ năng: 2/240 (1%)
Ngày gia nhập: 09/04/2010
Bài gởi: 4866
Được cảm ơn: 2762
Phản hồi: Các danh lanh thắng cảnh Đà Nẵng


 Đình Quá Giáng
 

Nhà thờ chư phái tộc Quá Giáng nay nằm ở thôn Quá Giáng, xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Nhà thờ được xây dựng năm Tân Tỵ (1821) thờ Quan Thánh và các vị tiền hiền của bốn tộc Đinh, Lê, Trần, Nguyễn - những người có công theo Chúa Nguyễn vào Nam khai phá đất đai lập nên làng Quá Giáng xưa bao gồm vùng Quá Giáng, Giáng Nam, Trà Kiểm, An Lưu và xóm Cồn Mong.

 

Nhà thờ được chia làm hai phần: phần tiền đường và phần chính điện. Nối nhà tiền đường và chính điện là hai dãy hành lang có mái che tạo nên một kiến trúc khép kín kiểu chữ nhật.

 

Tiền đường xây theo lối chồng rường giả thủ, chân giả thủ đều trang trí hình quả bí, phía trên được trang trí hình đài hoa sen.

 

Hai dãy cột chính mỗi dãy bốn cột cao 5m chống đỡ hai vì kèo và hai dãy cột quân thấp hơn chống đỡ hai mái phụ. Trên các thanh xà, kèo đều được trang trí cỏ cây, hoa lá, muông thú, bát bửu và các đường trang trí khác. Đuôi kèo được chạm khắc hình tượng cá chép hoá rồng.

 

Phần nhà thờ chính được xây dựng theo lối kéo tam đoạn (kéo chuyền) với ba gian bốn mái. Bốn cột chính cao 5m cùng 8 cột quân cao 3m và 16 cột con chống đỡ vì kèo. Đầu các thanh trính được khắc hình đầu rồng, giữa được trang trí chữ thọ và các đường nét trang trí hoa lá khác. Bộ cửa thượng song hạ bản cùng với bộ mắt cửa thể hiện rõ phong cách kiến trúc của Hội An với bàn tay tài hoa khéo léo của người thợ làng Kim Bồng nổi tiếng.

 

Mái nhà thờ lợp ngói âm dương với hình ảnh loan phụng hòa minh trên nóc. Hai bên là hai con rồng ngoái đầu lại nhìn nhau. Các con giống trong “tứ linh” cũng được đưa lên mái trước của tiền đường.

 

Hàng năm dân làng có hai kỳ Xuân Thu tế lễ vào các ngày 20/2 và 12/7 âm lịch để tưởng nhớ lại các vị tiền hiền đã mở mang vùng đất này.

 

Nhà thờ phái chư tộc Quá Giáng được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích quốc gia vào ngày 01/02/2000.



 
Không được phép bỏ link vào chữ ký 
Không Spam link dưới mọi hình thức
Thanks all

 
24/02/2012 14:02 # 10
hoanghuydtu
Cấp độ: 31 - Kỹ năng: 24

Kinh nghiệm: 216/310 (70%)
Kĩ năng: 2/240 (1%)
Ngày gia nhập: 09/04/2010
Bài gởi: 4866
Được cảm ơn: 2762
Phản hồi: Các danh lanh thắng cảnh Đà Nẵng


 Đình Nại Nam
 

Đình làng Nại Nam nay ở khối phố Nam Sơn, phường Hòa Cường, quận Hải Châu. Đình được xây dựng năm ất Tỵ (1905) từ công sức đóng góp của dân địa phương, thờ Thành hoàng bảo an chính trực, bổn xứ thổ thần và các vị tiền nhân của làng.

 

Đình ghi đậm dấu ấn văn hóa thời Nguyễn, mái lợp ngói âm dương, tường gạch, trên mái đình là lưỡng long chầu nguyệt, loan phụng hòa vinh, dơi ngậm đào, thể hiện qua nghệ thuật đắp ghép sành sứ, công phu, đẹp mắt. Bên trong chia làm 3 gian, 2 chái, phần chính diện dài 11,7m, rộng 7,9m, hậu tẩm rộng 3,9m, dài 4,1m. Có 4 hàng cột bằng gỗ mít, gồm 20 cột, có chiều cao từ 2,5m - 4,5m. Kết cấu kèo theo “chồng rường - giả thủ”. Phần đầu hồi chạm trổ khéo léo và tinh xảo qua bàn tay tài hoa của thợ chạm Kim Bồng (Hội An), thể hiện các đề tài: cá chép hóa long, bát bảo đạo nho, cùng các họa tiết hoa văn cây cỏ, hoa lá.

 

Ngày xưa, hằng năm có lễ cầu an tại đình vào rằm tháng 2 âm lịch và ngày lễ cuối năm (30 Tết).

 

Trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đình làm cơ sở, địa điểm để hoạt động cách mạng, có nhiều sự kiện lịch sử diễn ra ở đây như lễ kết nạp đảng viên, triển khai lực lượng chính trị và quân sự đánh vào thành phố ở các thời điểm 1950, 1951, 1960, 1965, 1968, 1975, nhiều người con ưu tú của địa phương đã sống, chiến đấu và hy sinh anh dũng tại đình.

 

Di tích đình Nại Nam, ngoài giá trị của một di tích kiến trúc - nghệ thuật còn là một trong những đình làng cổ tiêu biểu còn lại khá nguyên vẹn trong nội thành Đà Nẵng.

 

Đình làng Nại Nam được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích quốc gia vào ngày 04/01/1999.

(10/12/2011)


 
Không được phép bỏ link vào chữ ký 
Không Spam link dưới mọi hình thức
Thanks all

 
24/02/2012 14:02 # 11
taingo170
Cấp độ: 2 - Kỹ năng: 1

Kinh nghiệm: 8/20 (40%)
Kĩ năng: 1/10 (10%)
Ngày gia nhập: 27/06/2011
Bài gởi: 18
Được cảm ơn: 1
Phản hồi: Các danh lanh thắng cảnh Đà Nẵng


 mình ở Đà Nẵng mà giờ mới biết địa điểm này



 
24/02/2012 14:02 # 12
hoanghuydtu
Cấp độ: 31 - Kỹ năng: 24

Kinh nghiệm: 216/310 (70%)
Kĩ năng: 2/240 (1%)
Ngày gia nhập: 09/04/2010
Bài gởi: 4866
Được cảm ơn: 2762
Phản hồi: Các danh lanh thắng cảnh Đà Nẵng


 Cù Lao Chàm
Âu thuyền ở Cù Lao Chàm
 
 Cù lao Chàm là một quần đảo gồm 7 đảo (hòn Lao, hòn Tai, hòn Dài, hòn Mồ, hòn Lá, hòn Khô Mẹ và hòn Khô Con), có tổng diện tích trên 15km2, trong đó rừng chiếm khoảng 90%. Đảo lớn nhất là hòn Lao, nơi tập trung dân cư sinh sống, đảo nhỏ nhất là hòn Khô Con. Trên đảo có nhiều ngọn núi, ngọn cao nhất 517m. Hệ thực vật tương đối phong phú, còn nhiều cánh rừng nguyên sinh với những loại gỗ quý như gõ đỏ, kiền kiền, chò, xoan núi, mây, song… Động vật hoang dã có khỉ, chồn, thỏ, trăn, rắn. Có nhiều loại chim, trong đó có các loại chim biển cư trú. Đặc biệt là loại chim yến, mà tổ của nó là một loại thực phẩm cao cấp, vừa là dược liệu quý. Theo các tài liệu lịch sử, yến sào ở đây được con người tổ chức khai thác từ thế kỷ XVII. Trên đảo còn có miếu thờ ông tổ nghề khai thác yến sào. Hiện nay yến sào Cù lao Chàm được xếp vào loại tốt nhất ở Việt Nam và mỗi năm mang về cho ngân sách thị xã Hội An một khoản ngoại tệ đáng kể.
 
 Nằm cạnh đường hàng hải quốc tế nên Cù lao Chàm đã được các nhà hàng hải, thương nhân phương Đông và phương Tây biết đến rất sớm. Những cuộc khảo sát khảo cổ học của Đại học Quốc gia Hà Nội (5-1998) đã tìm thấy ở đây nhiều mảnh gốm thời Đường (Trung Hoa) có niên đại khoảng thế kỷ VII-X, một số mảnh gốm Islam của vùng Trung Cận Đông khoảng thế kỷ IX-X và nhiều mảnh gốm Chămpa, đồ thủy tinh gia dụng, hạt thủy tinh được chế tác rất tinh vi. Những hiện vật phát hiện phản ánh quan hệ giao lưu buôn bán giữa các quốc gia Đông Nam Á và Trung Cận Đông đã diễn ra ở đây cách nay khoảng 10 thế kỷ. Có thể nơi đây là điểm dừng thuận lợi của tàu thuyền qua lại để lấy nước ngọt, củi đốt, lương thực, hoặc để tránh gió bão và trở thành bến chợ của thương thuyền nhiều nước nằm cách phố cổ Hội An không xa.
 
 Qua hồi ký, bút ký của các lái buôn phương Tây, các nhà truyền giáo, thì quần đảo này được ghi theo mẫu tự Latinh là Pulociam, Pulaucham hay Polochiam. Người Trung Hoa gọi là Chiêm Bất Lao hay Tiêm Bích La. Còn người Việt thì gọi là Cù lao Chàm, có nghĩa là đảo của người Chàm, hay đảo có người Chàm ở (trước đây). Ngay từ “cù lao” cũng là từ vay mượn của ngôn ngữ Mã Lai (có nghĩa là hòn đảo).
 
 Thiên nhiên ở Cù lao Chàm còn giữ được nhiều nét đẹp nguyên sơ (rừng, biển, bãi tắm, suối nước…) chưa bị ô nhiễm bởi con người gây ra, môi trường rất phù hợp cho những “tour” du lịch sinh thái. Cù lao Chàm được Tổ chức Giáo dục và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới (26-5-2009) cùng với mũi Cà Mau.
 
 Cù lao Chàm hiện nay là xã Tân Hiệp thuộc thị xã Hội An, dân số khoảng 3.000 người, sinh sống chủ yếu bằng đánh bắt hải sản.


 
Không được phép bỏ link vào chữ ký 
Không Spam link dưới mọi hình thức
Thanks all

 
Các thành viên đã Thank hoanghuydtu vì Bài viết có ích:
24/02/2012 14:02 # 13
hoanghuydtu
Cấp độ: 31 - Kỹ năng: 24

Kinh nghiệm: 216/310 (70%)
Kĩ năng: 2/240 (1%)
Ngày gia nhập: 09/04/2010
Bài gởi: 4866
Được cảm ơn: 2762
Phản hồi: Các danh lanh thắng cảnh Đà Nẵng


 Đình Hải Châu
 

Đình làng Hải Châu nằm tại kiệt 42, đường Phan Chu Trinh, thuộc Tổ 6, phường Hải Châu 1. Phía trước có hồ nước lớn, ở giữa sừng sững hòn non bộ rợp bóng cây bồ đề trên dưới trăm tuổi. Trên cổng Tam Quan vẫn còn rõ tên Hải Châu Chánh Xã bằng chữ Hán. Qua khoảng sân rộng là một quần thể kiến trúc chính gồm: Đình Hải Châu, Nhà thờ Tiền Hiền, nằm giữa hai nhà thờ tộc thành hình chữ “nhất”. Nhà thờ bên trái của tộc Nguyễn Văn mới tách ra, còn nhà thờ bên phải gọi là Kinh An Tự thờ chung 42 bài vị của 42 tộc họ. 42 tộc họ này đều từ thôn Hiếu Hiền, xã Hải Châu, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, Thanh Hóa, theo vua Lê Thánh Tôn vào Nam từ năm Tân Mão (1471).

 

Vua Lê đã lập ra ấp Hàn Giang (sau là tỉnh Quảng Nam, nay là thành phố Đà Nẵng) và các tộc họ ấy đã quần tụ lại thành làng Hải Châu (theo tên xã cũ ở Thanh Hóa, bao gồm phần nội thành Đà Nẵng hiện nay), được triều Nguyễn phong sắc phong 'chánh xã”. Hơn 500 năm qua các tộc họ đầu tiên ấy đã đặt nền móng và không ngừng đóng góp công sức cho sự hình thành thành phố Đà Nẵng hiện nay.

 

Trên gác chuông đình Hải Châu hiện còn 1 chiếc chuông đồng, thân chuông có bài minh đắp nổi bằng chữ Hán. Tạm dịch: năm Minh Mạng thứ 5 (Giáp Thân - 1842) trùng tu chùa. Năm sau (1825) vua ban chỉ sắc tứ cho mang tên 'Chùa Phước Hải”. Năm Minh Mạng thứ 13 (Nhâm Thìn - 1832) nhằm ngày tốt, xã Hải Châu Chánh Đồng tạo lập chuông này. Các nhà sử học xác định Đình Hải Châu là Chùa Phước Hải, nơi Chúa Nguyễn Phúc Chu năm Kỷ Hợi - 1719 đã vào Quảng Nam và nghỉ lại, sau đó dân đã lập bàn thờ ông tại đây.

 

Đình làng Hải Châu được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích lịch sử quốc gia vào ngày 12/7/2001.



 
Không được phép bỏ link vào chữ ký 
Không Spam link dưới mọi hình thức
Thanks all

 
24/02/2012 14:02 # 14
hoanghuydtu
Cấp độ: 31 - Kỹ năng: 24

Kinh nghiệm: 216/310 (70%)
Kĩ năng: 2/240 (1%)
Ngày gia nhập: 09/04/2010
Bài gởi: 4866
Được cảm ơn: 2762
Phản hồi: Các danh lanh thắng cảnh Đà Nẵng


 Bia chùa Long Thủ
 

Bia chùa Long Thủ được dựng trong khuôn viên chùa Long Thủ nay đổi tên là chùa An Long. Chùa tọa lạc trên một khu đất nằm phía sau lưng Bảo tàng Điêu khắc Chăm, thuộc địa bàn phường Bình Hiên, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Bia chùa Long Thủ được dựng vào năm Thịnh Đức thứ 5, triều vua Lê Thần Tông (1658). Bia do ông Lê Gia Phước, pháp danh Pháp Giám, người làng Hải Châu viết. Nội dung bia nói về nguyên nhân xây dựng và tên gọi của chùa Long Thủ, tên họ những người đã đóng góp tiền của, đất đai để xây dựng chùa cùng danh sách những mảnh đất được cúng.

 

Theo nội dung bia thì ngày xưa ở vùng Nại Hiên, đức Phật thường cứu giúp những người bị hoạn nạn và hiện thân với đầu rồng, vì vậy các tín đồ Phật từ thường đến đây để cầu nguyện. ông Trần Hữu Lễ là người trong làng đã dâng cúng một khu vườn để xây dựng ngôi chùa làm nơi thờ phượng đức Phật, các tín đồ trong vùng đã đóng góp tiền của, ruộng đất để xây dựng ngôi chùa và đúc chuông, tạc tượng vào năm 1653. Theo lời kể của một số người già ở địa phương thì trước kia chùa có hai chiếc chuông lớn và nhiều tượng đẹp nhưng đã mất, và ngôi chùa cũng đã bị phá hủy trong thời chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn ánh. Còn tấm bia bị chôn vùi dưới đất, mãi đến năm 1903 mới tìm thấy và dựng lại bên cạnh cổng chùa. Năm 1961 giáo hội và tín đồ trong vùng đã xây dựng lại ngôi chùa như ngày nay theo kiểu dáng như những ngôi chùa cùng thời ở miền Nam, về mặt kiến trúc không có gì đặc sắc ngoại trừ cổng tam quan tương đối cũ (1903).

 

Bia được làm bằng sa thạch màu xám, kích thước 1,25m x 1,20m x 0,21m hình thang cân đỉnh tròn. Bia được điêu khắc cả hai mặt. ở mặt trước có một bài khắc chữ Hán được đóng khung bằng các dải hoa văn trang trí, trên trán bia, ở giữa chạm hình mặt trời có mây vờn quanh, hai bên trang trí hoa văn hình hoa dây buông thõng xuống, bên dưới là một dải hoa sen, ở hai đầu mút phía dưới có hình hai con nghê. Bài khắc gồm có 368 chữ Hán, 6 chữ lớn khắc theo đường ngang ở trên, đóng khung riêng từng chữ: “Lập Thạch Bi Thủ Long Tự”, ở hai đầu có hai chữ Vạn nhỏ hơn, còn 360 chữ nhỏ ở giữa lòng bia được khắc lõm theo 18 hàng dọc từ phải sang trái, ở mặt sau tấm bia cũng trang trí hoa văn thành một khung bao quanh bia như mặt trước nhưng không có chữ và ở bên dưới thay dải hoa sen bằng một dải cúc dây, ở hai đầu mút không có hai con nghê.

 

Ngày nay, tuy ngôi chùa cũ không còn nữa, nhưng tấm bia này là một di tích quan trọng, minh chứng cho sự hiện hữu của ngôi chùa ngày xưa, đồng thời đây cũng là một trong những tấm bia cổ nhất ở Đà Nẵng, góp thêm tư liệu cho việc nghiên cứu lịch sử địa phương.

 

Trước đây, bia chùa Long Thủ đã được Toàn quyền Đông Dương liệt hạng là di tích lịch sử theo Nghị định ngày 16.5.1925 và ngày 02/12/1992 Bộ Văn hóa Thông tin đã ra quyết định công nhận bia chùa Long Thủ là di tích lịch sử cấp quốc gia.



 
Không được phép bỏ link vào chữ ký 
Không Spam link dưới mọi hình thức
Thanks all

 
24/02/2012 14:02 # 15
HONGKHANH1303
Cấp độ: 9 - Kỹ năng: 6

Kinh nghiệm: 22/90 (24%)
Kĩ năng: 44/60 (73%)
Ngày gia nhập: 01/02/2012
Bài gởi: 382
Được cảm ơn: 194
Phản hồi: Các danh lanh thắng cảnh Đà Nẵng


 Cù Lao Chàm đẹp quá đi, rất thích hihi


Yahoo: Hongkhanh210293@yahoo.com.vn
Gmail: Khanh111527@student.ctu.edu.vn
Trial moderator box Club - Đội - Nhóm

 
24/02/2012 15:02 # 16
hoanghuydtu
Cấp độ: 31 - Kỹ năng: 24

Kinh nghiệm: 216/310 (70%)
Kĩ năng: 2/240 (1%)
Ngày gia nhập: 09/04/2010
Bài gởi: 4866
Được cảm ơn: 2762
Phản hồi: Các danh lanh thắng cảnh Đà Nẵng


 Mộ Ông Ích Khiêm
 

Lăng mộ danh nhân Ông Ích Khiêm hiện toạ lạc tại nghĩa trang xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 10km về phía tây - nam. Ông Ích Khiêm, tự là Mục Chi, ông sinh ngày 21 tháng 12 năm Mậu Tý (1829) tại làng Phong Lệ, tổng Thanh Quýt, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nay là làng Phong Lệ Bắc, xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang.

 

Ông thi đậu cử nhân năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) và làm quan dưới triều vua Tự Đức. Nổi tiếng là người thông minh, chính trực, là một vị tướng khẳng khái và mưu lược, ông có công trong việc cầm quân bảo vệ Đà Nẵng khi thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, xâm lược nước ta vào ngày 01/9/1858. Thời kỳ này ông ở dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Tri Phương, ông đã lo củng cố các đồn trại như đồn Nhất ở đèo Hải Vân, đồn Liên Trì, Phong Lệ và đắp lũy từ Hải Châu đến Phước Ninh...

 

Ông Ích Khiêm mất ngày 19 tháng 7 năm 1884 tại Bình Thuận. Con trai ông là Ông Ích Thiện đã đưa thi hài ông về quê và mai táng tại làng Phong Lệ. Đến năm Bảo Đại thứ 13 (1938) thi hài ông được cải táng về Gò Mô hiện nay.

 

Ngôi mộ ông được xây theo hình bát giác, có chiều dài từ cổng vào là 13,8m, chiều rộng 6,1m, tường bao xung quanh mộ cao 0,72m. Nấm mộ có chiều dài 4,75m, rộng 3,5m, cao 0,35m. Phía trước mộ có nhà bia, bên trong đặt một tấm bia bằng đá cẩm thạch, cao 0,83m, rộng 0,54m được trang trí hình rồng, phụng và hoa lá. Nội dung bia ghi:

 

Hoàng Triều-Hiển tổ Binh bộ tả thị lang, tấn phong Kiên trung Nam linh mộ.

Bảo Đại thập tam niên, tứ nguyệt, kiết nhật.

 

Nghĩa là:

Triều Nguyễn - ông cha chức là Tả thị lang Binh bộ, tước là Kiên trung Nam.

Năm Bảo Đại thứ 13, tháng 4 ngày tốt.

 

Lăng mộ danh nhân Ông Ích Khiêm được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích quốc gia vào ngày 12/7/2001.



 
Không được phép bỏ link vào chữ ký 
Không Spam link dưới mọi hình thức
Thanks all

 
24/02/2012 17:02 # 17
hoanghuydtu
Cấp độ: 31 - Kỹ năng: 24

Kinh nghiệm: 216/310 (70%)
Kĩ năng: 2/240 (1%)
Ngày gia nhập: 09/04/2010
Bài gởi: 4866
Được cảm ơn: 2762
Phản hồi: Các danh lanh thắng cảnh Đà Nẵng


 Nhóm tháp Chiên Đàn
Tháp Chiên Đàn

Di tích gồm 3 tháp thuộc làng Chiên Đàn, nay là xã Tam An, huyện Phú Ninh, nằm bên cạnh tây của quốc lộ 1A, cách thành phố Đà Nẵng 60km. Ba tháp xếp thành một hàng theo trục bắc - nam, cửa ra vào ở hướng đông. Tháp Giữa còn khá nguyên vẹn. Đỉnh tháp còn lại một tầng, tiền sảnh và các cửa giả bị sụp hỏng mất phần chân.

Tháp Bắc nhỏ nhất trong nhóm. Phần đỉnh tháp bị sụp đổ hoàn toàn, phần tiền sảnh nơi cửa ra vào không còn. Vòm cuốn trên cửa tương đối còn nguyên, các cửa giả bị hỏng nặng. 

Tháp Nam nhỏ hơn tháp Giữa, nhưng lớn hơn tháp Bắc. Phần mái bị sụp đổ hoàn toàn.

Các nhà nghiên cứu cho rằng nhóm tháp Chiên Đàn không xây cùng một lượt, mà ban đầu là tháp Nam, tiếp đến là tháp Giữa, sau cùng là tháp Bắc. 
Trong đợt trùng tu vào năm 1989, các nhà khảo cổ đã khai quật quanh các tháp, làm lộ ra toàn bộ chân tường, các trang trí bằng sa thạch với hàng trăm tác phẩm điêu khắc có giá trị.
    
Tại phía chân tháp Nam, các nhà khảo cổ đã tìm thấy một tấm lá nhỉ (tympan) thể hiện nữ thần Uma có 6 tay, 2 tay chắp trên đầu, 4 tay còn lại cầm cung, tên, đinh ba và vòng. Nữ thần đứng trên lưng một con bò, chân phải co lại, chân trái duỗi ra. Hai bên nữ thần có 2 người đang tư thế cầu nguyện. Có lẽ lá nhỉ này trước đây được gắn trên vòm cửa ra vào của tháp.
    
Ngoài tượng người, ở nhóm tháp Chiên Đàn còn có nhiều tượng động vật như rắn thần Naga, ngỗng thần Hamsa, chim thần Garuđa, voi, sư tử, nai…
    
Vào giữa năm 1997, tại đây đã khai quật được một tấm bia lớn, mài bằng một mặt, trên đó có khắc 8 dòng chữ Sanskrit. Có thể nói Chiên Đàn là nhóm tháp có số lượng hiện vật nhiều nhất.

Đa số các nhà nghiên cứu căn cứ vào tác phẩm điêu khắc, xếp tháp Chiên Đàn vào phong cách Chánh Lộ, thế kỷ XI đầu thế kỷ XII.



 
Không được phép bỏ link vào chữ ký 
Không Spam link dưới mọi hình thức
Thanks all

 
Các thành viên đã Thank hoanghuydtu vì Bài viết có ích:
24/02/2012 17:02 # 18
hoanghuydtu
Cấp độ: 31 - Kỹ năng: 24

Kinh nghiệm: 216/310 (70%)
Kĩ năng: 2/240 (1%)
Ngày gia nhập: 09/04/2010
Bài gởi: 4866
Được cảm ơn: 2762
Phản hồi: Các danh lanh thắng cảnh Đà Nẵng


 Tháp Bằng An
Tháp Bằng An

Tháp Bằng An thuộc làng Bằng An, nay là một thôn của xã Điện An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nằm bên cạnh tỉnh lộ 609, cách Đà Nẵng 27km về phía nam. Nhà nghiên cứu người Pháp H. Parmentier từ đầu thế kỷ XX đã có nhận xét đây là một tháp Chămpa có dáng vẻ kỳ lạ trong lịch sử kiến trúc cổ Chămpa. Bằng An là ngôi tháp duy nhất có hình bát giác còn tồn tại đến ngày nay. Nhìn từ phía ngoài, tháp tựa như một búp măng tre khổng lồ, cao gần 20m, thân hình trụ bát giác, mỗi cạnh tường dài 4m. Phần ngoài tiền sảnh khá dài, cửa mở về hướng đông, hai bên tiền sảnh có 2 cửa phụ. Tường tháp phẳng, không có cửa giả, không có trụ áp tường và hoa văn trang trí. Vòm mái hình chóp, thu nhỏ dần trên đỉnh. Trên các đường gờ dọc theo mái tháp còn lại nhiều dấu vết của những vật trang trí kiến trúc bằng sa thạch. Chóp tháp đã bị rơi mất.
    
Nội dung tấm bia tìm thấy tại Bằng An trước đây cho biết vua Bhadravarman II cho xây một đền thờ tên là Linga Paramesvara (Thượng đế tuyệt đỉnh- một tên hiệu của thần Civa). Theo các nhà nghiên cứu, thì tháp Bằng An được xây dựng vào khoảng năm 875-877. Còn J. Boisserlier thì dựa vào 2 pho tượng Gajasimha bằng sa thạch đặt ở trước tháp theo phong cách Chánh Lộ, xác định niên đại muộn hơn (vào thế kỷ XI)

Một số ý kiến khác căn cứ vào dáng bên ngoài của tháp trông giống như một chiếc linga khổng lồ, cho đó chính là Linga Paramesvara mà vua Bhadravarman II đã cho xây dựng vào cuối thế kỷ IX.



 
Không được phép bỏ link vào chữ ký 
Không Spam link dưới mọi hình thức
Thanks all

 
24/02/2012 17:02 # 19
hoanghuydtu
Cấp độ: 31 - Kỹ năng: 24

Kinh nghiệm: 216/310 (70%)
Kĩ năng: 2/240 (1%)
Ngày gia nhập: 09/04/2010
Bài gởi: 4866
Được cảm ơn: 2762
Phản hồi: Các danh lanh thắng cảnh Đà Nẵng


 Di tích khu căn cứ Nước Oa (1960-1973)
Căn cứ Nước Oa, Trà My, cơ quan Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu V trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước


Nước Oa nguyên là tên của một con sông nằm trong rừng già thuộc xã Trà Tân, huyện Trà My, tỉnh Quảng Nam. Trong bối cảnh chính quyền Ngô Đình Diệm đang thi hành những chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” khốc liệt, nhằm đánh phá và tiêu diệt phong trào cách mạng ở miền Nam, Khu ủy V và Tỉnh ủy Quảng Nam đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh công tác xây dựng miền núi thành căn cứ địa cách mạng để bảo vệ và duy trì phong trào. Khu căn cứ Nước Oa được thành lập làm nơi đứng chân của Khu ủy V và Bộ Tư lệnh Quân khu V vào khoảng giữa năm 1960. Có thể coi đây là khu căn cứ đầu tiên của Khu V, nơi sống và làm việc, chỉ huy, lãnh đạo phong trào của các đồng chí trong Khu ủy và các tướng lĩnh như Tư lệnh Chu Huy Mân (sau này là đại tướng) trong KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ từ 1960-1973. Trong suốt thời gian hơn một thập kỷ, nhiều cuộc hội nghị quan trọng bàn về đường lối, phương hướng hoạt động cách mạng, nhiều lớp huấn luyện cán bộ, chiến sĩ đã được tổ chức tại nơi đây.

Khu căn cứ Nước Oa nằm cách thị trấn Trà My khoảng 8km đường chim bay, có địa hình sông suối, núi cao, rừng sâu hiểm trở, thuận lợi cho việc đóng quân, di chuyển vào Nam ra Bắc, tiếp cận với đồng bằng, nhưng điều quan trọng hơn cả là căn cứ được bà con các dân tộc anh em Trà My đùm bọc, chở che một cách thủy chung, dũng cảm đầy tình nghĩa trong những năm kháng chiến ác liệt nhất.

Khu căn cứ Nước Oa được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia (Quyết định số 938 VH/QĐ ngày 4-8-1992)
 



 
Không được phép bỏ link vào chữ ký 
Không Spam link dưới mọi hình thức
Thanks all

 
24/02/2012 17:02 # 20
hoanghuydtu
Cấp độ: 31 - Kỹ năng: 24

Kinh nghiệm: 216/310 (70%)
Kĩ năng: 2/240 (1%)
Ngày gia nhập: 09/04/2010
Bài gởi: 4866
Được cảm ơn: 2762
Phản hồi: Các danh lanh thắng cảnh Đà Nẵng


 Hòn Kẽm
 

Hòn Kẽm là tên một hòn núi nằm giữa hai xã Quế Lâm và Quế Phước của huyện Quế Sơn trước đây, do có sự điều chỉnh về địa giới hành chính, hòn Kẽm nay là ranh giới giữa hai huyện Nông Sơn và Hiệp Đức. Núi mang tên “Hòn Kẽm” để chỉ địa hình nơi đây “hai bên là vách núi dựng đứng, ở giữa là dòng sông”. Theo sách Việt ngữ chánh tả từ vị của Lê Ngọc Trụ: “Kẽm là khe, lối hẹp, hai bên có núi”. Ví dụ: Kẽm Trống trên dòng sông Đáy tỉnh Hà Nam.

So với các hòn núi khác trong tỉnh như núi Bà Nà (Hòa Vang), hòn Tàu (Quế Sơn), hòn Bà (Trà My) về mặt độ cao, thì hòn Kẽm thuộc loại đàn em, nhưng lại được người ta biết nhiều, thường được báo chí nhắc đến, bởi hai lý do: Thứ nhất, do vị trí và thế đứng kỳ vĩ của những vách núi đá như bức trường thành soi bóng xuống dòng sông lớn Thu Bồn - con đường giao thông thủy lớn nhất và dài nhất Nam Trung Bộ từ bao đời nay - với vẻ đẹp riêng hiếm có, mà ai đã một lần đi thuyền ngang qua khó mà quên được. Ở miệt trung du, con sông chảy giữa hai bên là đồi núi là hình ảnh phổ biến, quen thuộc. Nhưng ở nơi đây, con sông chảy qua hòn Kẽm không có quang cảnh ấy, mà hình như từ buổi xa xưa dòng nước từ phía thượng nguồn đổ về đã chọc thủng qua dãy núi, mở một đường thoát về xuôi. Đi thuyền qua đây (không có đường bộ) khách có cảm giác như mình bị khép chặt giữa hai bên vách đá cao dựng đứng trên một đoạn sông dài nhiều kilômét.

Thứ hai, là không biết tự bao giờ, hình ảnh hòn Kẽm được khắc họa trong câu ca dao trữ tình được xếp vào loại những câu ca dao hay nhất của xứ Quảng mà nhiều người đã thuộc nằm lòng: 
            Ngó lên hòn Kẽm đá dừng
            Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi!

Ở đây, cần được “mở ngoặc” nói thêm một điều.Trong khẩu ngữ, trong giao tiếp hàng ngày, ta thường nghe cụm từ “Hòn Kẽm đá dừng”. Trên báo chí, cách viết địa danh này không thống nhất.

Cách viết thứ nhất, “Hòn Kẽm - Đá Dừng” (viết hoa cả 4 từ, có dấu phẩy hoặc gạch ngang ở giữa), hàm nghĩa chỉ hai địa danh liền nhau là Hòn Kẽm và Đá Dừng. Thậm chí có người đã viết: “tại đây một bên là Hòn Kẽm và một bên là Đá Dừng”(?). Nếu thế thì tại sao không viết là Hòn Kẽm và Hòn Dừng mà lại thêm từ “Đá” vào đây (Hòn Kẽm cũng toàn là đá đấy chứ).

Cách viết thứ hai, “Hòn Kẽm đá dừng” (đá dừng viết thường) với ý nghĩa “đá dừng” không phải là địa danh mà là để chỉ cảnh đá dựng nhưbức trường thành ngăn và che khuất tầm nhìn. Như vậy, “đá dừng” ở đây là trạng ngữ bổ nghĩa cho địa danh Hòn Kẽm. Để chứng minh cho luận điểm này, xin dẫn chứng thêm rằng trên bản đồ của Pháp trước đây và của ta hiện nay chỉ thấy ghi núi Hòn Kẽm, không có núi hay địa danh “Đá Dừng”. Khảo sát trên thực địa, thì phía thượng nguồn kề Hòn Kẽm, bên tả ngạn là làng xưa mang tên Nhụ Sơn (lẽ ra phải đọc là Nhũ Sơn. Nhũ là cái vú. Ở đây có hòn núi một có hình dạng như chiếc vú phụ nữ, nên được đặt tên là Nhũ Sơn. Phía bên hữu ngạn là làng Thạch Bích (bức tường ngăn bằng đá), tên nôm khá phổ biến chỉ địa danh này là làng Đá Ngang (xin nhấn mạnh là làng Đá Ngang chứ không phải là làng Đá Dừng). Từ việc đối chiếu trên bản đồ và trên thực địa, thì cách viết “Ngó lên Hòn Kẽm đá dừng” (đá dừng là trạng ngữ bổ nghĩa cho Hòn Kẽm) là hợp lý nhất.

Ở chân núi bên phía Thạch Bích có một tảng đá nhô ra, mặt trên phẳng, nằm gần mặt nước. Vào mùa nước lũ thì ngập sâu, mùa nắng nước cạn thì hòn đá lộ ra trên có dòng chữ Sanskrit ngoằn ngèo cao khoảng 15cm, dài 2m đã mờ mất nhiều nét do bị nước chảy bảo mòn. Những người đi thuyền qua đây thường dừng lại, đặt đồ cúng trên phiến đá. Có nhiều truyền thuyết được thêu dệt xung quanh hòn đá “thiêng” này. Thực ra, đây là di tích của Chămpa xưa. Dòng chữ Sanskrit này được nhà bi ký học người Pháp Edouard Hubert, giáo sư Trường Viễn Đông bác cổ Pháp (Hà Nội) giải mã vào năm 1911 như sau

Dịch sang mẫu tự Latinh (hàng trên): Cri Campecvaro vijayi mahipati Cri; (hàng dưới): Prakàcadharmmeti sthàpitavàn Amarecam iha. Có nghĩa là: Hoàng đế Prakacadharma, vua nước Chămpa vinh quang muôn năm! Chúa đất nơi đây xin dâng cúng đấng Siva này…

Cũng theo ông E. Hubert, trước đây còn có một vật tượng linga đặt trên hòn đá này, rồi do lũ lụt bị nước cuốn trôi mất. Văn khắc này là một trong 40 văn khắc Chămpa rải rác trên lãnh thổ Quảng Nam



 
Không được phép bỏ link vào chữ ký 
Không Spam link dưới mọi hình thức
Thanks all

 
Các thành viên đã Thank hoanghuydtu vì Bài viết có ích:
Copyright© Đại học Duy Tân 2010 - 2019