Chatbox

Các bạn vui lòng dùng từ ngữ lịch sự và có văn hóa,sử dụng Tiếng Việt có dấu chuẩn. Chúc các bạn vui vẻ!
02/03/2010 22:03 # 1
Vistano
Cấp độ: 12 - Kỹ năng: 21

Kinh nghiệm: 2/120 (2%)
Kĩ năng: 0/210 (0%)
Ngày gia nhập: 06/02/2010
Bài gởi: 660
Được cảm ơn: 2100
Hướng dẫn xây dựng máy vi tính để xem phim chuẩn HD (Phần 3)


Hướng dẫn xây dựng máy vi tính để xem phim chuẩn HD (Phần 3)

Cài đặt phần mềm cần thiết - giải mã âm thanh hình ảnh HD
Để xem HD bằng HTPC, cần các phần mềm sau:
- codec hình ảnh -> decode hình ảnh nén thành tín hiệu video
- codec audio -> decode âm thanh nén AC3/DTS thành tín hiệu audio
- player -> chuyển các tín hiệu video và audio thành tín hiệu hiểu tương thích xuất ra màn hình

1. Codec hình ảnh:
Hiện nay phổ biến các dạng codec sau:

- CoreAVC: dạng codec này thích hợp cho các máy tính tốc độ thấp, cho chất lượng hình ảnh tạm được, hoạt động nhẹ nhàng nhưng cái giá phải trả là không can thiệp hay điều chỉnh được vào phần hình ảnh xuất.

- integrated-codec: codec tích hợp sẵn trong các phần mềm xem video và được tối ưu cho phần mềm đó. Dạng codec này thì muôn hình muôn vẻ, chất lượng cũng tầm tầm, được cái rất dễ xài, cài player xong là có (vd: kmplayer, zoomplayer, powerdvd...)

- ffdshow-codec: đây là codec mà tôi muốn nói tới: khả năng tinh chỉnh cực kỳ phong phú, can thiệp sâu, vắt kiệt sức mạnh CPU và tận dụng khả năng đổ bóng điểm (pixel-shader) của video card vào việc tối ưu hóa hình ảnh. ffdshow là codec nặng nề nhất, nhưng nó cũng là codec cho chất lượng hình ảnh cao nhất hiện nay. Phần lớn ffdshow codec chỉ dùng 1 core của CPU khi hoạt động, chỉ có 1 vài version hỗ trợ cả 2 core (cái này ít người biết nha)

2. Codec âm thanh:
Cũng như codec hình ảnh, codec âm thanh hiện nay phổ biến: integrated codec và AC3filter. Tôi dùng AC3filter vì nó dễ sử dụng, nhiều tùy biến và cho chất lượng tốt.

Codec hình ảnh và âm thanh có thể download riêng rẽ hoặc được chứa trong 1 gói gồm nhiều codec khác nhau, gọi là codecpack. Khi ta install codecpack, các codec bên trong đó sẽ tự động được cài đặt vào hệ thống và sẵn sàng hoạt động.

1 câu hỏi đặt ra là: codec nào tốt nhất và tại sao lại thế? Theo kinh nghiệm bản thân:

- K-lite codecpack: nổi tiếng nhất, được nhiều người sử dụng nhất, nó bao gồm rất nhiều codec (có cả coreavc, ffdshow và ac3filter), tuy nhiên điểm yếu của K-lite là phiên bản codec bên trong đó không được cập nhật lên phiên bản mới nhất thường xuyên. Bên cạnh đó, nó gộp vào rất nhiều codec mà có khi ta không bao giờ dùng tới.

- CCCP codecpack: có ffdshow và ac3filter, thường xuyên cập nhật 2 codec quan trọng này nên nó được khá nhiều người tin dùng, bên cạnh đó, nó lược bỏ đi khá nhiều codec không cần thiết nên nhẹ nhàng hơn K-lite rất nhiều.

- Vista codecpack: đây mới là phiên bản mà tôi muốn nói tới, điểm đặc biệt nhất của vista codecpack là nó chứa codec ffdshow được tối ưu cho CPU multi-core (đa nhân), khi hoạt động, tất cả các core đều được chia 1 khối lượng công việc đều nhau nên khi vào peak-time, khung hình vẫn trơn mượt, bên cạnh đó, nhiệt độ của CPU cũng được cải thiện rõ rệt. Hiện nay tôi thấy phiên bản Vista codecpack V456 (updated tháng 1-2008) là hoạt động tuyệt nhất.

3. Player:
Theo thói quen sử dụng, mỗi người thích dùng 1 player khác nhau. Tuy nhiên các player càng phức tạp thì lại càng hạn chế người ta can thiệp sâu các codec ngoại lai.

Ví dụ:
- PowerDVD có codec riêng, hoạt động khá tốt, nhưng tùy biến của nó mò một lúc là hết, muốn học thêm để hiểu cũng chả còn gì để mò.
- KM player cũng có codec riêng, cho phép dùng codec ngoài như ffdshow, nhưng nó chặn hầu hết những thay đổi sâu bên trong codec này, mất hay.
v.v...

Player tôi muốn nói tới là Media Classc Player, rất quen thuộc, rất nhỏ gọn nhưng đầy sức mạnh.

Tóm lại, phần này khép lại với những phần mềm sau cần được download và cài đặt:

- DirectX 9[/b] phiên bản mới nhất (nov2007)
- Vista Codecs Package (phiên bản v456)
- Media Classic Player (phiên bản 6.4.9.1)

(nếu bạn đã cài đặt bộ codec nào trước đó thì nên gỡ ra trước khi cài codec mới nhé)
V. Tinh chỉnh các thông số để phát huy tối đa sức mạnh HTPC

Lưu ý:
- trước khi thực hiện bước này, bạn cần chỉnh các thông số trên TV trước như đã đề cập bên trên: thông số contrast, brightness và cân chỉnh hình ảnh tối ưu. Việc này được thực hiện bằng remote của TV.

- chắc chắn rằng bạn đã cài phiên bản mới nhất của DirectX, tại thời điểm viết bài, phiên bản mới nhất là DirectX november, 2007

Thiết lập mặc định khi double-click cho các file HD thì chương trình Media Classic Player 6.4.9.1 (gọi tắt là MPC) tự động tải: bằng cách
- right-click vào tên file .MKV,
- chọn open with...
- chọn Choose Program...
- trong bảng Open with vừa hiện ra, chọn Media Player Clasic
- đánh dấu vào checkbox: Always use the selected...
- xác nhận OK

Phần 1. Hình ảnh

Khi chạy default, toàn bộ video được xử lý bởi CPU, Video card (GPU) chỉ đóng vai trò xuất hình ảnh ra màn hình. Nếu chúng ta không can thiệp vào các thông số của player, codec, filter... chất lượng hình ảnh của HD qua MPC rất tầm thường, thậm chí xấu hơn các chương trình play HD khác (KMplayer, Jetaudio, PowerDVD...).

Tuy nhiên, khi ta can thiệp vào các thông số của MPC, ffdshow đúng cách kèm theo việc bật một số hiệu ứng shader, hình ảnh thu được sẽ được nâng lên 1 tầm cao mới và khó có chương trình player thương mại nào bì kịp. Trong trường hợp này, cả CPU và GPU được tận dụng trong việc thể hiện hình ảnh xuất. Khả năng xử lý pixel-shader của GPU là con át chủ bài trong các tác vụ chau chuốt hình ảnh mà tôi sẽ trình bày sau đây. Vì lý do này, ngay từ đầu tôi đã khuyên bạn nên mua Video-card hỗ trợ pixel shader 2.0 (hoặc 3.0) và nên chọn dòng Nvidia.

(bắt đầu từ thời điểm này, các screenshot sẽ là thiết lập tối ưu, bạn chỉ việc tham khảo và thiết lập giống vậy)

1. Thiết lập cho MPC
Right-click, đánh dấu như sau:


Để truy cập vào các bảng thiết lập cấu hình, bạn làm như sau:
- mở 1 film HD bất kỳ, pause.
- nhấn O trên bàn phím hoặc chọn Option trên thanh menu View


Lưu ý:
- "store setting to .ini file" dùng để lưu thiết lập cho những lần dùng sau.
- "process priority above normal" dùng để ưu tiên tài nguyên cho MPC, tránh tình trạng giật hình, trễ tiếng khi chạy kèm với các ứng dụng khác.


- bỏ chọn "auto load subtitle" để tránh tình trạng nhiều phụ đề được nạp và thể hiện cùng lúc.


- chọn "VMR9 renderless": kích hoạt chức năng shader của GPU vào việc nâng cấp chất lượng hình ảnh. Yêu câu GPU hỗ trợ DX9 và Pixel shader 2.0
- chọn "Use texture.. in 3D" và resizer: "Bilinear PS 2" để sử dụng tính năng texture fill của GPU, đồng thời dùng Pixel Shader 2.0 trong việc resize video.


- bỏ chọn "DTS/AC3" trong "Source filters"
- bỏ chọn "AC3" và "DTS" trong "Transform filters"
-> giao việc decode âm thanh cho filter bên ngoài xử lý
(chức năng decode âm thanh của codec đi kèm bộ MPC không tốt lắm)


- bỏ chọn "Enable build-in audio...", chức năng này có tác dụng khuyếch đại âm thanh, nhưng nó làm việc kém, gây vỡ âm thanh ở âm lượng lớn.

Trên đây là các thiết lập đối với MPC. Bạn cần đóng MPC lại để các thiết lập này có tác dụng và được ghi vào file .ini cấu hình. Tiếp theo là các thiết lập cho codec ffdshow:

2. Thiết lập cho ffdshow:

Kích hoạt: right-click trên màn hình MPC, chọn theo sơ đồ dưới đây:



Bảng thuộc tính của ffdshow thật hoành tráng:

Thuộc tính nào được đánh dấu vào checkbox sẽ hoạt động khi play film HD.

Giới thiệu vài thành phần:

- Codecs (hình trên): chỉ định loại codec (decoder) xử lý loại media (format) mà MPC đảm nhận. Chẳng hạn đối với phim HD (format H.264/AVC) thì decoder mang tên livavcodec sẽ đảm nhiệm vai trò giải mã, tương tự cho các định dạng khác. Sau này, bạn muốn chỉ định codec nào cho loại định dạng nào thì đây chính là nơi bạn điều chỉnh.

- OSD: thể hiện các thông tin lên màn hình chính: CPU load, số frame, định dạng, tỉ lệ khung hình...

- Tray, dialog & paths: thể hiện biểu tượng đặc trưng trên tray bar của window khi hoạt động, chỉ định đường dẫn chứa codec trong HDD

- Keys & remote: quy định các phím tắt

Đây là phần rất hữu ích khi bạn điều khiển HTPC từ xa bằng remote hoặc bàn phím không dây. Vì vậy bạn nên enable chức năng này.

- Crop: dùng để cắt xén bớt một vùng màn hình khi chiếu phim, nó cũng dùng để phóng to 1 phần nào đó của màn hình xem phim

- Deinterlacing: xác định giải thuật khử quét hình xen kẽ, áp dụng cho các định dạng phim 1080i, mặc định bạn tắt chức năng này, nếu xuất hiện răng cưa khi chiếu phim, hãy thử bật chức năng này để thấy tác dụng của nó.

- Logoaway: một chức năng hữu hiệu để loại bỏ logo quảng cáo ra khỏi màn hình xem phim.

- Postprocessing: giải thuật chống tình trạng kẻ ô vuông trong các pha hành động nhanh, do CPU đảm trách.

Bạn enable chức năng này và thiết lập như trong hình.

Đây là chức năng ngốn tài nguyên CPU, bạn nhớ đánh dấu vào box "Automatic quality control" để CPU liệu cơm gắp mắm, khi gặp các frame "khó khăn" sử dụng hết tài nguyên CPU, chức năng này sẽ tự động tắt đến khi hệ thống trở lại bình thường, nhờ đó khuôn hình video luôn đảm bảo thông suốt, tránh tình trạng giật hình.

- Picture properties: điều chỉnh độ tương phản (contrast), sáng tối (brightness), độ đậm nhạt (gamma), bảng màu, độ rực màu (saturation)

Đây là chức năng rất quan trọng trong ffdshow, bạn nên làm việc thật cẩn thận trong thuộc tính này.

Đầu tiên, hãy bật chức năng này bằng cách đánh dấu vào checkbox của nó, sau đó kéo các thanh trượt tương ứng để quan sát sự thay đổi hình ảnh (trong khi điều chỉnh chức năng này, hãy cho MPC play 1 bộ phim HD chuẩn, đẹp). Khi điều chỉnh các thanh trượt, có thể tác dụng chưa thấy ngay tức thời, trong trường hợp đó, hạy nhấn nút Apply trước khi điều chỉnh tiếp.

Mỗi màn hình sẽ tối ưu với các thông số tinh chỉnh khác nhau nên sẽ không có khuôn mẫu nào cho thuộc tính này, tuy nhiên điểm chung là bạn đẩy cao giá trị contrast lên khoảng 150-170, giảm brightness xuống vài đơn vị, đặc biệt, nên giảm gamma xuống một chút để tăng độ đậm màu. Brightness và Gamma nên hài hòa với nhau, nếu giảm quá nhiều, hình ảnh sẽ bị mất chi tiết ở vùng tối. Đối với thông số Saturation, đừng ngần ngại tăng nó lên cao, khoảng 70-80 để màu sắc rực rỡ hơn (tuy nhiên, đừng tham lam kẻo trông lòe loẹt quá thì lại không đẹp)

Bạn hãy xác định là mất 5 phút cho phần này, điều chỉnh cẩn thận và bạn sẽ thấy kết quả thật khác biệt, hình ảnh được nâng lên 1 tầm cao mới.

- DeBand: đối với các màn hình cân chỉnh chưa hoàn hảo hoặc bị nhiễu, đây là nơi bạn sửa chữa vấn đề.

- Levels: chỉnh độ sáng tối cho toàn bộ khung hình, tuy nhiên nếu phần Picture properties bạn đã làm tốt rồi thì không cần đến phần này.

- Blur & Noise reduction: làm hình ảnh trơn mịn, chống nhiễu hạt, tuy nhiên cái giá phải trả là độ sắc nét sẽ bị giảm bớt. Đây là chức năng rất hữu hiệu khi xem các cảnh có nhiều da thịt lộ liễu.

- Sharpen: tăng độ sắc nét hình ảnh, đây là chức năng rất hay, rất đáng quan tâm, tuy nhiên chúng ta có 1 công cụ cùng chức năng hay hơn mà tôi sẽ đề cập ở phần tiếp theo, vì vậy ta đành bỏ qua phần này vậy.

- Noise: thêm nhiễu hạt vào phim (tôi tự hỏi ta cần cái chức năng này để làm gì?)

- Resize & aspect: thay đổi kích cỡ và tỉ lệ hình ảnh, áp dụng cho các phim có tỉ lệ không chuẩn (bị dài hình hay bẹt hình)

- Subtitle: chức năng về phụ đề, tuy nhiên ta không dùng ffdshow để thể hiện phụ đề nên có thể bỏ qua phần này

- bitmap overlay: thêm biểu tượng hình ảnh (logo) vào 1 góc nào đó trong khuôn hình, bạn thích cho biểu tượng riêng của mình vào thì enable chức năng này lên.

- grab: chức năng này rất hay, dùng để chụp các screenshot theo 1 serie, sau mỗi đơn vị thời gian hoặc sau 1 số khung hình thiết lập trước. Cái này ta thường thấy trên preview 1 film nào đó.

- overlay: lại 1 thuộc tính có chức năng tương tự như thuộc tính Picture properties đã nói trên (có cần nhiều như thế không nhỉ?)

3. Thiết lập cho Shaders:



Giới thiệu sơ lược:

- sharpen complex: làm tăng độ sắc nét của hình ảnh
- 16-235 -> 0-255: thay đổi bảng màu sử dụng (color range)
- emboss: chả biết là cái gì
- spotlight: hiệu ứng soi đèn
- deinterlace: hiệu ứng khử quét xen kẽ
- invert: đảo màu
- procamp: không biết là gì luôn
- contour, letterbox: chả hiểu để làm gì
- nightvision: hiệu ứng giả lập qua kính nhìn đêm
- wave: hiệu ứng gợn sóng
- sharpen: quan trọng nhất - tăng cường độ sắc nét hình ảnh
- sphere: hiệu ứng nhìn qua kính góc rộng
- grayscale: biến hình ảnh thành đen trắng
- edgesharpen: tăng độ sắc nét cạnh

Tất cả các shader trên đều dùng năng lực Pixel Shader của GPU và không liên quan đến CPU. Hầu hết chỉ là những shader dùng để nghịch chơi, chỉ duy nhất shader "sharpen" là có giá trị sử dụng, và cũng chính nó khiến MPC trở thành công cụ play HD vô địch.

Trước khi sử dụng shader này, bạn cần tối ưu nó bằng cách dùng phần cứng GPU sao cho phù hợp:

Khởi động trình đơn Edit Shader bằng cách nhấn Ctrl+F9 hoặc chọn trực tiếp trong menu View của MPC:



- tại scrollbox số 1: chọn shader "sharpen" - đối tượng cần chỉnh
- tại scrollbox số 2: sẽ là 1 danh sách các hình thức sử dụng để áp dụng cho shader "sharpen".
. Nếu Video card của bạn hỗ trợ Pixel shader 3.0 trở lên, hãy chọn "ps_3_0"
. Nếu Video card của bạn hỗ trợ Pixel shader 2.0, hãy chọn "ps_2_0
- sau khi chọn xong, khu vực 3 phải hiện lên dòng "... succeeded", nếu không, tùy chọn của bạn chưa thích hợp và sẽ không có hiệu quả.

Trên đây chỉ là gợi ý, nếu muốn bạn có thể chọn từng mục và quan sát hiệu quả của nó trong phim cụ thể. 2 giá trị cần quan sát khi thử nghiệm là chất lượng cải thiện của video và mức tiêu thụ tài nguyên CPU:

- thử nghiệm từng giá trị, ghi nhận giá trị cho ra chất lượng hình ảnh cao nhất.
- nếu có nhiều giá trị tại đó chất lượng hình ảnh như nhau thì chọn giá trị đòi hỏi ít tài nguyên nhất.

Sau khi đã có phương án tối ưu, bạn nhớ enable nó lên (quan sát hình đã post ở trên).

Nếu shader Sharpen không làm hình ảnh cải thiện, có thể do 2 khả năng sau:
- bạn chưa cài đặt directX đúng phiên bản
- Video card của bạn không support

Chú ý: sử dụng hiệu ứng "sharpen" có thể tăng đáng kể độ sắc nét và chi tiết hình ảnh, bên cạnh đó nó cũng có thể sinh ra nhiễu hạt (noise). Tuy nhiên, nếu bạn ngồi ở vị trí thưởng thức HD (1 khoảng cách khoảng 2m trước màn hình), hiện tượng nhiễu này coi như không đáng kể, vì vậy, để đánh giá chất lượng hình ảnh giữa việc có và không sử dụng sharpen, bạn cần ngồi ở vị trí thưởng thức HD quen thuộc của mình.

Hiệu ứng sharpen có thể áp dụng cho mọi loại media trình chiếu bằng MPC, với DVD nó cho hình ảnh sắc nét và chi tiết đến gần mức của HD 720p.

Phần 2. Âm thanh
Như đã đề cập ở những phần trước, có nhiều codec giúp giải mã âm thanh, tôi chọn AC3filter codec vì nó đơn giản, dễ sử dụng và cho chất lượng tốt. Khi cài Vistacodec pack, AC3filter được tự động cài vào máy và thiết lập trong trạng thái sẵn sàng hoạt động.

Kích hoạt menu của AC3filter trong MPC:




1. Chỉnh hệ thống loa 5.1: 3 loa front / 2 loa rear / 1 loa sub woofer. Nếu hệ thống loa của bạn không phải là 5.1, hãy chọn menu tương ứng. Kinh nghiệm cho thấy, đối với dàn loa 4.1, chọn setting như trên sẽ cho âm thanh hay hơn là chọn "quad chanels"

2. Vì sound ALC883 onboard của DS3P hỗ trợ âm thanh 24bit nên tôi chọn PCM 24, tuy nhiên nếu bạn gặp tạp âm (tiếng tanh tách nhỏ) thì hạ xuống PCM 16, nếu bạn thích các setting khác cũng không sao, miễn âm thanh phát ra phù hợp sở thích của bạn là được.

3. 2 thông số tại đây giống nhau là đẹp nhất, tức là âm thanh vào và ra cùng tính chất, không bị suy giảm hay mất chi tiết

4. nếu bạn thấy âm thanh quá nhỏ, hãy tăng Gain để khuyếch đại, tuy nhiên, âm thanh có thể sẽ bị vỡ, rè ở mức âm lượng cao.


Nếu bạn dùng đường analog out, hãy thiết lập như hình, nếu bạn dùng digital out (coaxial hoặc optical) hãy đánh dấu vào box "Use SPDIF". AC3filter chỉ hỗ trợ 1 trong 2 hình thức trên, nếu dùng analog thì không dùng được SPDIF và ngược lại.


Đây là nơi bạn có thể khắc phục tình trạng lệch tiếng (lệch đều trong cả phim), kéo thanh trượt timeshift về bên trái hoặc phải tương ứng với tình trạng nhanh tiếng hoặc trễ tiếng.

Chú ý là chức năng này chỉ có thể dùng để chỉnh lệch tiếng đối với phim vốn bị lỗi phần âm thanh, còn nếu bạn bị lệch tiếng vì CPU quá yếu không giải mã kịp thì chức năng này không giúp được gì.

Phần 3. Phụ đề

Xem phim HD thì phụ đề rất quan trọng, phụ đề có nhiều kiểu định dạng khác nhau, nhưng định dạng mà tôi thích nhất là .srt vì nó đơn giản, dễ chỉnh sửa, dùng unicode, file nhỏ nhẹ.

Phụ đề có thể được load một cách tự động mỗi khi bạn bật MPC để xem phim. Để auto-load phụ đề, bạn cần đặt tên phụ đề giống tên phim (có thêm phần phụ để nhận biết ngôn ngữ). Ví dụ:

- tên phim là: 28.Weeks.Later.2007.720p.HDTV.x264-CtrlHD.mkv
- tên phụ đề Việt ngữ: 28.Weeks.Later.2007.720p.HDTV.x264-CtrlHD.VIE.srt
- tên phụ đề Anh ngữ: 28.Weeks.Later.2007.720p.HDTV.x264-CtrlHD.ENG.srt

đặt tên như vậy, khi bật phim 28weekslater, menu phụ đề sẽ có 2 lựa chọn: VIE cho tiếng Việt và ENG cho tiếng Anh.

Phụ đề có thể ghi thành file .srt rời bên ngoài (có thể chung thư mục chứa phim hoặc gom vào 1 nơi cố định) hoặc tích hợp sẵn vào phim. Trong trường hợp nào thì ta cũng sử dụng chúng bằng cách chọn trong menu phụ đề của MPC, theo hình phía dưới ta thấy phụ đề tiếng Việt (VIE) đã được nạp, và đây là phụ đề duy nhất của phim đang chiếu.

Có nhiều cách nạp phụ đề khi xem phim bằng MPC:

1. nạp phụ đề bằng MPC: có thể nạp tự động bằng cách chỉnh trong menu Player của MPC (đã đề cập bên trên) hoặc nạp tay bằng cách nhấn Ctrl+L (với điều kiện bạn phải dùng VMR9 cho MPC). Cách này tiện, nhưng không nạp được những phụ đề tích hợp sẵn trong phim.

2. nạp phụ đề bằng ffdshow: có thể nạp tự động bằng cách chỉnh trong menu Sub của ffdshow, cách này bất tiện vì phải qua nhiều tầng menu mới can thiệp được các thiết lập phụ đề.

3. nạp phụ đề bằng DirectVobSub filter (có sẵn khi cài Vistacodec pack): nhiều ưu điểm nên đây sẽ là lựa chọn của tôi trong tác vụ này.

Lưu ý: tất cả các công cụ trên hoạt động độc lập, có nghĩa là nếu ta enable 2 hay 3 công cụ trên thì ta sẽ có 2 hay 3 phụ đề được hiển thị đồng thời và đè lên nhau. Vậy, nên tắt 2 công cụ đầu và bật công cụ số 3.

Để truy cập vào các thiết lập của DirectVobSub:




1. đây là tên phụ đề được nạp tự động, ta có thể cưỡng bức filter này nạp 1 phụ đề khác bằng cách nhấn nút Open bên cạnh

2. chỉnh Override placement như trên để thay đổi vị trí phụ đề trên phim, tôi chỉnh hạ thấp phụ đề xuống 1 chút để nó nằm trên băng đen phía dưới màn hình, tránh nó che vào phần hình ảnh của phim đang chiếu.

Để chỉnh font chữ, cỡ chữ, màu chữ của phụ đề, ta thiết lập trong mục Text settings (nhấn vào ô có chữ Arial). Trước khi thiết lập hãy pause bộ phim đang chiếu lại. Tôi thường dùng font Arial, màu chữ vàng đậm (default là màu trắng)

Các setting tiếp theo thiết lập như các hình sau:





Đây là nơi chỉnh nhanh nhằm khắc phục tình trạng lệch phụ đề:

1. lệch tuyến tính: nhập vào thời gian phụ đề bị lệch so với phim tính bằng milisecond, nếu phụ đề chậm hơn phim thì nhập số dương, nhanh hơn thì dùng số âm.

2. lệch giãn đều: độ dài thời lượng của phụ đề không trùng với thời lượng phim. Nhập tổng thời lượng phụ đề vào ô bên trái và thời lượng tương ứng của phim ứng với phụ đề ở ô bên phải.

Nếu phụ đề lệch giãn không đều thì ta đành phải edit phụ đề theo đoạn bằng tay, chương trình này không giúp được gì.


Đây là nơi DirectVobSub tìm kiếm phụ đề khi chiếu phim. Bạn có thể lưu phụ đề cùng thư mục với film hoặc gom chúng lại 1 thư mục riêng rồi add thư mục đó vào bảng trên.

VI. Cách chọn phim HD:

Phim HD - mục đích của việc lắp HTPC này chính xác phải gọi là HD rip. Hiện nay phim HD được lưu trữ bằng 2 định dạng phổ biến là HD-DVD và Blu-ray. HD-DVD vừa mới bị thông báo khai tử, như vậy từ giờ trở đi, phim HD sẽ được lưu trên Blu-ray.

Phim HD gốc có dung lượng > 20GB, nếu lưu trữ định dạng này bằng HDD thì quả là ác mộng, thật may mắn là định dạng HD rip ra đời đã kéo dung lượng của phim HD xuống còn khoảng 4.3 - 8.6 GB (chứa vừa trong 1 hoặc 2 DVD thông thường) với chất lượng gần như tương đương nhờ vào giải thuật nén tiên tiến H264/X264

Phim HD rip (từ giờ gọi tắt là phim HD) có chất lượng không đồng đều, giống như DVD trên thị trường VN vậy, đủ các loại. Các file phim HDrip ngoài tên phim còn chứa rất nhiều thông tin khác giúp bạn đánh giá sơ qua chất lượng của chúng. Ví dụ 1 file HDrip có tên:

Harry.Potter.and.the.Order.of.the.Phoenix.2007.720 p.BluRay.DTS.x264-ESiR.mkv

- Tên phim: Harry.Potter.and.the.Order.of.the.Phoenix
- sản xuất: năm 2007
- độ phân giải: 720p
- source (nguồn gốc): BluRay
- âm thanh: chuẩn DTS (5.1)
- chuẩn nén: X264
- team rip: ESiR
- đóng gói: định dạng matroska .mkv

Chất lượng của phim HD được quyết định bởi các yếu tố sau:

1. Source phim HD gốc: chất lượng sắp theo thứ tự giảm dần

- Blu ray hoặc HDdvd phát hành chính thức, được chuyển sang định dạng HD-rip bằng phần mềm chuyên dụng cho chất lượng tốt nhất

- Blu-ray+ là chuẩn mới nhất của Blu-ray, hiện nay chưa crack được nên phải chuyển sang HD rip qua 2 bước: capture từ đầu phát vào PC, sau đó chuyển sang định dạng HD rip. Trường hợp này không tốt bằng trường hợp trên, nhưng chất lượng cũng khá ổn. Hiện nay phim Die Hard 4.0 và Sunshine được thực hiện theo kiểu này.

- source là HD rip định dạng này được convert sang định dạng khác

- source là nguồn phim chiếu trên cable HDTV được capture và convert sang HDrip, hình thức này thường để lại 1 logo nhỏ của đài phát trên phim.

- source là DVD rồi upscale lên HD, đây là trường hợp tệ nhất nhưng không thiếu trên trị trường HD hiện nay. Tuy mang danh HD nhưng thực chất chỉ tương đương DVD. Ai tinh tế nhìn biết liền.

2. Bit-rate, độ phân giải:

- Bit-rate: là lượng dữ liệu chuyển từ file film lên CPU trong 1 giây để xử lý giải mã thành hình ảnh và âm thanh. Bit-rate càng cao phim càng đẹp, âm thanh càng hay nhưng cũng đồng nghĩa với việc CPU phải giải quyết càng nhiều công việc.

- Độ phân giải: gồm 1080i, 1080p và 720p. Độ phân giải của phim HD tính bằng chiều ngang (1920 đối với 1080p/i) hoặc 1280 (đối với 720p) nhân với chiều dọc (biến đổi tùy theo phim) của diện tích hình ảnh (không tính phần băng đen). Ví dụ:

.1080i/p ở tỉ lệ 16:9 có độ phân giải 1920x1080 ~ 2.01 MPx (megapixel)
.1080i/p ở tỉ lệ 2.39:1 có độ phân giải 1920x803 ~ 1.54 MPx
.720p ở tỉ lệ 16:9 có độ phân giải 1280x720 ~ 0.92 MPx
.720p ở tỉ lệ 2.39:1 có độ phân giải 1280x536 ~ 0.69 MPx

Rõ ràng là trên lý thuyết 1080p cho hình ảnh chi tiết hơn 720p gấp đôi. Tuy nhiên, trên thực tế sự chênh lệch này khó phân biệt bằng mắt thường trên cả TV 720p (HD ready) và 1080p (Full HD) hiện nay:

- đối với TV 720p, việc thể hiện 1080p cũng chỉ cho độ chi tiết ngang với 720p vì đó là giới hạn phân giải của panel

- đối với TV 1080p kích cỡ 46" trở xuống thì ở khoảng cách 2.5m (khoảng cách xem phim đảm bảo) cũng rất khó phân biệt sự khác biệt vì tại vị trí này kích cỡ pixel quá nhỏ để có thể nhận biết bằng mắt thường. Tôi cho rằng, ưu thế của 1080p chỉ có thể nhận biết bằng mắt thường dễ dàng khi màn hình > 60", lúc ấy phim 720p bắt đầu có hiện tượng rạn hình đủ để nhận biết bằng mắt thường.

Tham khảo thêm: màn ảnh rộng ngoài rạp có kích thước lớn gấp vài trăm lần LCD full HD nhưng có độ phân giải (quy đổi) chỉ gấp 5 lần 1080p. Điều đó cho thấy yêu cầu tốc độ tăng diện tích màn hình tăng gấp nhiều lần yêu cầu tăng độ phân giải với chất lượng hình ảnh tương đương.

Mối tương quan giữa bit-rate, độ phân giải với chất lượng HD:

- Xét 1 phim HD 720p @ 2.39:1 (độ phân giải của nó là 0.69 MPx) có bit-rate hình ảnh là 6000 Kbps -> hình ảnh đẹp

- Nếu cũng là phim này nhưng là bản HD 1080p @ 2.39:1 (độ phân giải là 1.54 MPx - gấp 2.23 lần trường hợp trên) thì bit-rate yêu cầu để có chất lượng hình ảnh tương ứng phải đạt được là 6000*2.23=13380 Kbps. Đây là 1 con số tương đối lớn nên nó thường bị cắt xén bớt để hạ thấp dung lượng file.

Từ đây rút ra, nếu bit-rate của phim 1080p thấp hơn 13380 một cách đáng kể, có thể phim sẽ không đẹp bằng bản 720p

Nói dài dòng như ở trên cuối cùng cũng chỉ kết lại vài vấn đề sau:
- bit-rate quan trọng hơn độ phân giải, như vậy 1 phim 720p cũng có thể đánh gục phim 1080p về chất lượng.
- 1080p chiếu trên LCD 720p thì cũng chỉ thể hiện 720p
- 1080p chiếu trên LCD full HD cỡ nhỏ không cho khác biệt đáng kể so với 720p ngay cả khi tương quan bit-rate của chúng là công bằng.


Nhìn vào dung lượng phim có thể thấy được phần nào chất lượng phim thông qua bit-rate và độ phân giải:

1 phim chuẩn (có độ dài dưới 110 phút), độ phân giải 720p, âm thanh AC3 thì nên có dung lượng ~ 4.37 GB (1 DVD5), nếu thay âm thanh AC3 bằng âm thanh DTS, dung lượng của phim nên là 6.2 GB (1.5 DVD5). Nếu phim có DTS mà dung lượng vẫn trong 1 DVD5 thì một ít chất lượng hình ảnh phải bị hy sinh.

Phim có độ phân giải 1080p thì nên có dung lượng gấp 2.3 lần phim 720p để đảm bảo chất lượng tương ứng.

Nếu độ dài của phim lớn hơn 110 phút thì dung lượng của phim phải tăng tương ứng. Ví dụ các phim Terminator 2, King Kong, The Matrix, Lord of the Rings... mà có dung lượng dưới 8GB thì chất lượng không đảm bảo tiêu chuẩn HD chân chính.

3. Team rip: xếp theo thứ tự chất lượng giảm dần

Team rip là tên của 1 cá nhân hay 1 nhóm thực hiện việc chuyển source thành HDrip. Hiện nay có nhiều nhóm thực hiện công việc này, tuy nhiên có những nhóm cho chất lượng trội hơn những nhóm còn lại do họ có điều kiện máy móc tốt hơn, nhiều kinh nghiệm hơn, giỏi hơn...

- Đầu bảng phải kể đến CtrlHD và ESIR: chất lượng HDrip cực tốt và đồng đều. HDrip mang tên nhóm này thậm chí khó có thể phân biệt với source. CtrlHD thường có thói quen rip 1080 nên file lớn, ESIR bình dân hơn, rip 720p nên phim của họ thường chỉ ở dung lượng 1 DVD5.

- Kế đến là THOR, iLL với chất lượng rất tốt, có thể ngang ngửa với 2 nhóm trên nhưng họ ít xuất hiện nên sản phẩm của họ hơi hiếm. Nghe nói THOR là tiền thân của ESIR.

- 1 team rip khá đặc biệt là SEPTIC, nhóm này có tốc độ ra phim nhanh nhất, hầu như mọi phim mới xuất hiện, còn nóng hổi đều bắt đầu bằng tên của nhóm này. Tuy nhiên chất lượng của họ không đồng đều, có phim chất lượng cao nhưng có phim chất lượng chỉ đạt loại khá.

- REFiNED, OAR, C100, DON là những teamrip cho ra những sản phẩm tốt đến rất tốt.

- tiếp theo là 1 số teamrip có danh phận khác: SiNNERS, IMF, HV... cho chất lượng từ khá đến rất tốt tùy theo phim

- xếp cuối là các phim không mang tên teamrip nào, do người không chuyên thực hiện, đây là những phim có chất lượng may rủi, có phim rất đẹp, nhưng cũng có phim chất lượng tệ, thậm chí có phim upscale từ source chất lượng thấp.

4. Phụ đề

Nhân tố này không quyết định chất lượng của phim HD nhưng nó lại là nhân tố rất quan trọng trong việc thưởng thức phim.

Rõ ràng là 1 phim HD với đầy đủ phụ đề Việt ngữ kèm theo sẽ hấp dẫn (và có giá trị) hơn rất nhiều so với chỉ có phụ đề Anh hoặc tệ hơn là hoàn toàn không có phụ đề.

Hiện nay phụ đề cho phim HD được làm thủ công: trích rút từ DVD, download trên mạng hoặc tự dịch... sau đó đồng bộ hóa cho khớp với lời thoại của phim.

Làm phụ đề Việt cho phim mất công hơn nhiều so với việc sở hữu được phim đó, vì thế, mỗi phim HD có kèm phụ đề hoàn chỉnh là 1 tàn sản quý của người sở hữu.

Tại SG có nhóm HD-Saigon, đã Việt hóa được 70% kho phim của mình và vẫn đang tiếp tục tiến hành công việc này.

VII. Tổng kết

1. Mua HTPC thế nào?


Sau khi nói đã đời về HTPC với lại config các kiểu, có thể nhiều bạn đọc kết lại 1 câu: rồi, vậy tổng chi phí là bao nhiêu, thích rồi đấy.

Có nhiều lựa chọn cho 1 bộ HTPC, tôi xin trình bày theo cách đầu tư rẻ nhất:

- CPU Intel 2140 ~ 69$
- Main tầm tầm, có khả năng OC ~ 70$
- Ram 1GB ~ 24$
- Vga Geforce 7200GS ~ 43$
- PSU Acbel E ~ 25$
- Case + Key + mouse ~ 25$

Tổng cộng: 256$ ~ 4.1 triệu đồng (rẻ quá phải không bạn), tất nhiên bạn phải bỏ thêm tiền để mua HDD, nhưng cái này tùy khả năng kinh tế của mỗi người mà mua HDD lớn hay nhỏ.

Với cầu hình này, HPTC có thể làm được các việc sau:
- khi OC lên 2.4G (100% possible) nó có thể chơi tốt các định dạng HDrip 720p và 1080p
- chơi tốt 720p ở thiết lập cao nhất, còn 1080p có thể thiết lập chất lượng trung bình hoặc cao tùy phim
- xem phim dvd, nghe nhạc... tốt
- làm việc, duyệt web... tốt

Mở rộng, nâng cấp:

- Nếu bạn không thích hoặc không muốn OC, để có tốc độ 2.4G, bạn cần đổi sang CPU E4600 với số tiền bù thêm là: 80$

- Nếu bạn cần trang trí phòng khách, bạn nên đổi case tiêu chuẩn thành case nằm HTPC, số tiền cần cho việc nâng cấp lên case NZXT Duet (case trong bài viết) là: 50$

- Nếu bạn có nhu cầu chơi game, bạn nên đổi video card bằng loại mạnh hơn, tùy nhu cầu và thể loại game, mức đầu tư nâng cấp vào khoảng 100-250$

- Nếu bạn cần âm thanh hay hơn, hãy đầu tư 1 sound card chất lượng, giá tiền nâng cấp là: 100$

- Nếu bạn chạy các ứng dụng nặng (biên tập video, biên tập hình ảnh, thiết kế cad/cam...) bạn cần nâng cấp thêm 1GB ram nữa, số tiền thêm vào là 24$

- Nếu bạn cần remote điều khiển từ xa, hãy mua 1 cái. Đồ cấp thấp có giá khoảng 10$, đồ trung cấp 50$, đồ cao cấp hơn 150$

- Nếu bạn cần bàn phím, chuột không dây, hãy bắt đầu bằng 1 bộ logitec giá 45$, muốn xịn hơn? có liền!

Có nhiều thứ có thể nâng cấp khác mà tôi không thể liệt kê ra hết được. Nói chung thì không có giá trần, bạn có bao nhiêu thì nâng cấp bấy nhiêu, càng nhiều tiền thì càng xịn.

Nói chung, khó có 1 công thức chung cho việc nâng cấp, nhưng chắc chắn rằng, với mỗi số tiền nâng cấp xác định, luôn tồn tại một phương án hiệu quả hơn những phương án còn lại. Người có kinh nghiệm về PC là người chỉ ra được phương án tối ưu đó. Vì vậy, nếu có nhu cầu nâng cấp, hãy hỏi người có kinh nghiệm. Nếu bạn chưa đủ kinh nghiệm và muốn tự làm, cũng tốt thôi, người ta sẽ nhớ những bài học lâu hơn nếu phải đánh đổi với 1 cái giá nào đó.

2. Mua phim HD thế nào?

HTPC nói trên hoàn toàn có thể chơi được các đĩa blu-ray hoặc hd-dvd trên thị trường nếu có đầu đọc thích hợp. Tuy nhiên cách đầu tư này rất tốn kém và kể cả có tiền cũng chưa chắc đã mua được đĩa để xem.

HTPC được lắp ráp là để chơi các định dạng HDrip, hình thức này rẻ tiền, tiện lợi hơn rất nhiều. Vậy HDrip ở đâu mà có:

- Tự làm:
. bạn có thể tự download HDrip trên mạng, tùy vào tốc độ đường truyền và các nhân tố khác mà bạn có thể down được 1 phim trong khoảng 6h cho đến cả tuần.
. Sau đó, bạn có thể lấy phụ đề Việt ngữ bằng cách download (nếu có), hoặc trích rút từ 1 DVD có sẵn... và synchronizes với phim HDrip (nếu bạn kiên trì + biết cách làm).

Cách này miễn phí nhưng phải đóng tiền internet, tiền điện download, tiền khấu hao máy móc và đương nhiên bạn phải thông thạo cách làm nữa. Đi theo cách này phải kiên trì.

- Đi xin: nếu bạn có thể xin được HDrip từ ai đó thì thật tiện, chỉ cần mang HDD đến và a-lê-hấp... xong phim!

Cách này miễn phí nhưng dính vào ơn nghĩa, nguồn phim bị phụ thuộc vì hiếm khi 1 người có thể lưu được tất cả số phim HD hiện có, vì thế chắc chắn sẽ có nhiều phim bạn thích mà người ta lại không có. Dù sao thì cũng là đi xin mà, đòi hỏi chi nữa?

- Đi mua: có 1 số người sưu tập HD rồi bán lại cho những ai có nhu cầu. Giá thì mỗi người 1 kiểu nhưng phổ biến là 4000-5000 vnđ cho 1 phim 4GB (1 phim 720 chuẩn). Như vậy mua HD vẫn rẻ hơn nhiều so với DVD và rẻ hơn rất nhiều so với DVD9.

Cách này nhanh, hiệu quả nhưng lại mất tiền. Nhưng dù sao thì đã chơi đến HD thì bỏ ra 400k cho 100 phim cũng chẳng phải điều gì to tát lắm. Khi dùng cách này, bạn nên tham khảo kỹ phần hướng dẫn chọn lựa phim HD nha, vì nguồn HD đa dạng phong phú, vàng thau lẫn lộn, cả xấu cả đẹp đủ cả. Thêm nữa: nếu bạn cần phụ đề tiếng Việt thì chú ý hỏi người bán trước nha. Không như DVD bán đại trà luôn có tiếng Việt kèm theo, HD phải làm phụ đề thủ công nên không phải ai cũng có.

Xin kết bài với 1 bộ HTPC mà tôi mới hoàn thành, ghép với receiver + loa gia dụng 5.1:





Bộ âm thanh này cũng chỉ là hàng tầm tầm, nhưng thực sự chất lượng vượt trội so với loa vi tính, đây sẽ là hướng đầu tư đúng đắn với những người có điều kiện.

Các phần mềm giới thiệu các bạn có thể tim kiếm trên website hoặc search trên google. Những linh kiện nêu trên chỉ mang tính chất minh hoạ tại thời điểm đăng bài, bạn có thể tham khảo thêm rất nhiều các đời khác trên thị trường (vi tính, âm thanh)khi nghành công nghệ ngày càng phát triển.
Chúc các bạn thành công!



cuasocongnghe.com


 
Các thành viên đã Thank Vistano vì Bài viết có ích:
Copyright© Đại học Duy Tân 2010 - 2014